Chương 10: Chẳng dám nhìn Quan Âm
Việc đi bệnh viện vì cóng chân, một chuyện có thể khiến người ta cười rụng răng, cuối cùng đã không xảy ra. Chưa đầy năm phút sau, đôi chân của Vưu Tri Ý đã hoàn toàn ấm lại.
Hôm nay cô đi ủng ngắn, cổ giày có một vòng lông ôm lấy bắp chân, tăng thêm hiệu quả giữ ấm, nhưng lúc này nó lại khiến lòng bàn tay và chân cô nóng đến mức đổ mồ hôi.
Bình thường nếu ở trên xe của ba, cô đã tháo giày ra rồi, nhưng bây giờ thì không thể.
Từ sau khi dặn dò cô nếu vẫn không thoải mái thì đưa đi bệnh viện, Hành Tông Ninh không nói thêm lời nào nữa. Trong xe chỉ có tiếng máy điều hòa hoạt động vù vù và tiếng ồn trắng khi xe di chuyển.
Lòng bàn tay ấn nhẹ lên ghế da, cô hắng giọng, phá vỡ sự im lặng: “Tôi khỏi rồi ạ.”
Hành Tông Ninh nghiêng đầu, ánh mắt lướt nhẹ qua bàn chân hơi duỗi về phía trước của cô: “Khôi phục cảm giác rồi sao?”
Cô gật đầu: “Vâng.”
Dứt lời, trong không gian tĩnh mịch vang lên vài tiếng bấm nhẹ trên bảng điều khiển. Cửa gió thay đổi hướng, tốc độ gió giảm xuống.
Nguyên tiêu gặp tuyết lớn, tình hình giao thông đúng như dự đoán, không hề khả quan, thậm chí có chút tồi tệ. Dòng xe xếp hàng dài dằng dặc, đèn hậu nối thành một biển đỏ, đi đi dừng dừng. Sau khi xe lại một lần nữa nhích từng chút một rồi phanh gấp theo xe phía trước, Vưu Tri Ý không ngồi yên nổi nữa.
Cứ với tốc độ này, về đến nhà chắc là ăn được đợt điểm tâm sáng sớm đầu tiên của khu phố cổ luôn mất.
Dù sao cũng là trên xe người khác, cô không tiện vận động mạnh, lưng sắp mỏi nhừ đến gãy rồi, thế là cô lên tiếng gọi dừng: “Cho tôi xuống ở đây đi ạ.”
Phía trước vừa hay là một khu danh thắng, có hoạt động hội đèn lồng. Cô định đi dạo một chút, đợi giao thông bớt tệ hơn rồi mới về, hoặc tìm đại một khách sạn gần đó nghỉ qua đêm.
Chiếc xe này ai thích ngồi thì ngồi, cô không ngồi nổi nữa.
Thiệu Cảnh đang lái phía trước, nghe vậy liếc nhìn gương chiếu hậu, chờ ý kiến của Hành Tông Ninh. Người sau nhìn ra con đường rực rỡ ánh đèn bên ngoài cửa sổ, khẽ gật đầu.
Xe dừng lại ở khu vực trả khách ven đường, Vưu Tri Ý mở cửa xuống xe, không quên quay người lại cảm ơn: “Hôm nay làm phiền anh quá.”
Lời còn chưa dứt, người bên cạnh cũng bước xuống theo. Cửa xe đóng lại, Hành Tông Ninh đứng ở phía bên kia xe, nói vọng qua: “Dù sao cũng không đi được, chi bằng đồng hành đi.”
Vưu Tri Ý đứng dưới một ngọn đèn cá chép treo trên cây cảnh ven đường, ánh sáng bảy màu đổ xuống người cô. Suy nghĩ một lát, cô đáp một câu: “Cũng được ạ.”
Chỉ cần không phải ngồi đờ ra như thế, chắc cũng không đến mức ngượng ngùng quá mức.
Cả hai đi bộ dọc theo con phố về phía khu vực hội đèn lồng. Không khí sau tuyết mang theo cái lạnh thấu xương, nhưng đường phố lại vô cùng náo nhiệt. Trong khu danh thắng có hội đèn, kéo theo cả những con đường phụ bên ngoài cũng bày kín các gian hàng nhỏ. Đèn lồng đan thủ công, lẩu Oden bốc khói nghi ngút, phụ kiện nhỏ xinh rực rỡ…
Thỉnh thoảng Vưu Tri Ý lại quay đầu nhìn những vật nhỏ bày bán ven đường. Cô nhớ lúc nhỏ về Tô Thành đón Tết, trong trấn thường tổ chức hoạt động rước đèn cá. Khi đó pháo hoa chưa bị cấm, đêm hội rực rỡ như ngàn cây nở hoa, trong tiếng người huyên náo chứa đầy hơi thở nhân gian và hương vị Tết.
Sau này khi tuổi tác lớn dần, cô càng thấy không khí lễ hội nhạt đi. Trước đây cô luôn tưởng là do mình đã lớn, chỉ trẻ con mới cảm nhận được lễ Tết một cách chân thực. Cho đến vài năm gần đây, khi các ngày lễ truyền thống bắt đầu được coi trọng trở lại, nhiều hoạt động từng bị cắt bỏ nay tái xuất trên sân khấu, cô mới nhận ra không phải do mình lớn lên, mà là do mọi người đã bớt coi trọng cảm giác nghi thức này rồi.
Đi đến lối vào hội đèn, cô vẫn không nhịn được mà dừng chân trước một sạp bán đèn lồng. Chủ sạp là một ông cụ, đang ngồi sau quầy vót nan tre. Thấy cô dừng lại, ông cười hiền hậu chào mời: “Cô bé, thích cái nào để ông lấy cho xem.”
Trên chiếc xe nhỏ treo đầy hoa đèn hình dáng khác nhau, mỗi loại đều có ngụ ý riêng, loại nào cũng đẹp. Vưu Tri Ý đắn đo một lúc, cô chọn một chiếc đèn Ngao Ngư. Nan tre làm cốt, bên ngoài dán vải màu, đầu rồng mình cá, là kỹ thuật di sản văn hóa phi vật thể.
Ông cụ nói chiếc đèn này có ý nghĩa rất tốt, gọi là: “Độc chiếm đầu bảng, cát tường bình an.”
Vưu Tri Ý cầm cây gậy tre chống, xoay nhẹ chiếc đèn trên không trung. Ánh sáng lấp lánh, quả thực rất mãn nhãn, cô cười sảng khoái: “Cháu lấy cái này ạ.”
Nói xong, cô nhìn sang Hành Tông Ninh bên cạnh, tiếp tục nói với ông cụ: “Phiền ông chọn giúp vị tiên sinh này một chiếc phù hợp với anh ấy nữa ạ.”
Ông cụ cũng thuộc diện có mắt nhìn người, liếc qua khí chất là hiểu được vài phần, bèn chọn một chiếc đèn hình con cua ra: “Chiếc đèn cua này cậu thấy sao? Giàu sang tột bậc, tiền tài tám hướng.”
Quả thực rất hợp với anh.
Vưu Tri Ý gật đầu: “Được ạ.” Sau đó cô cầm đèn quay sang hỏi anh: “Thấy sao ạ? Xem như là quà cảm ơn vì Hành tiên sinh đã cho tôi đi nhờ xe ba lần hôm nay.”
Chiếc đèn cua ngang ngược được cô giơ trong tay, một đôi mắt đen láy nhìn sang, giữa ánh đèn chập chờn điểm xuyết ý cười mới mẻ.
Hành Tông Ninh nhìn cô, anh khựng lại một giây, giọng nói mang theo ý cười: “Vậy thì cảm ơn cô Vưu nhé.”
Vưu Tri Ý mỉm cười, cô quay người định trả tiền. Đèn Ngao Ngư hơi nặng, cô đưa cho Hành Tông Ninh bảo anh cầm hộ một lát, rồi cúi đầu lấy ví, lấy tiền mặt ra thanh toán. Sạp nhỏ mới mở, chưa bán được mấy chiếc, ông cụ cũng không biết dùng thanh toán điện tử, tiền lẻ trong tay không đủ để thối lại.
Vưu Tri Ý nhìn một chiếc đèn quýt nhỏ đơn giản nhất trên sạp, nói: “Vậy ông không cần thối lại đâu ạ, cháu lấy thêm một chiếc đèn quýt này là được.”
Ông cụ nhìn qua, vội nói không được: “Cái này là để tặng bọn trẻ con chơi thôi, cháu thích thì cứ cầm lấy một cái, ông không lấy thêm tiền đâu.” Nói xong ông cầm một chiếc đèn lăn vừa đan xong đưa qua: “Cháu cầm cái này đi, cái này cũng vui lắm.”
So với mẫu mã phức tạp của đèn cua và đèn Ngao Ngư, chiếc này đơn giản hơn nhiều. Vưu Tri Ý đưa tay nhận lấy: “Vâng, cháu cảm ơn ông.”
Đúng lúc có khách khác tới hỏi giá, ông cụ bận rộn đón tiếp. Vưu Tri Ý rút thêm hai tờ tiền trăm tệ trong ví, kẹp vào một vị trí dễ thấy trên sạp, rồi quay sang Hành Tông Ninh: “Đi thôi ạ.”
Hành Tông Ninh liếc nhìn số tiền mặt cô để lại trên sạp: “Không sợ bị người khác lấy mất sao?”
Cô nhận lại chiếc đèn Ngao Ngư từ tay anh, đi vài bước rồi quay đầu lại nhìn. Ông lão chủ sạp đã tiếp khách xong, cũng đã thấy số tiền kẹp trên sạp, cầm lấy rồi đưa mắt tìm kiếm xung quanh. Vưu Tri Ý quay người lại, lắc lắc chiếc đèn trong tay, cười nói: “Thứ gì rời bỏ mình thì vốn dĩ đã không thuộc về mình, tất thảy đều do duyên phận. Cùng lắm thì đi lại con đường đó, đưa đi một lần nữa là được chứ gì.”
Quả là rất khoáng đạt. Hành Tông Ninh nhìn gương mặt nghiêng của cô ẩn hiện trong ánh sáng hoa đèn, anh khẽ cong môi cười theo.
Vào đến khu vực hội đèn, người đi bộ chen vai sát cánh, gần như ai cũng cầm một chiếc đèn lồng trên tay, không khí lễ hội vô cùng đậm đà. Đi ngang qua một bức đại hoa đèn vẽ đồ đằng linh vật của năm nay, rất nhiều người đang đứng trước chụp ảnh check-in. Vưu Tri Ý đứng ngoài vòng vây nhìn một chút, rồi nhìn sang người bên cạnh.
“Hành tiên sinh có hay đi xem hội đèn thế này không?” Cô cứ cảm thấy những dịp đầy hơi thở phố thị như thế này dường như không hợp với anh cho lắm.
Hành Tông Ninh thành thật trả lời: “Lúc nhỏ tôi có đi xem cùng trưởng bối trong nhà, mấy năm gần đây thì không.” Anh cũng không có mấy thời gian nhàn hạ thế này. Nói xong, anh mỉm cười: “Nhờ phúc của cô Vưu, năm nay mới được xem đấy.”
Vưu Tri Ý mím môi không đáp. Phía trước vừa hay có hoạt động đố đèn, cô bước tới. Đây là hoạt động do ban tổ chức sắp xếp, đoán đúng sẽ có quà nhỏ tương ứng.
Vưu Tri Ý ngẩng đầu nhìn chiếc đèn lồng gần mình nhất, dải lụa viết câu đố xoay vòng trong gió. Cô đưa tay bắt lấy, nhìn rõ chữ viết trên đó, chỉ vỏn vẹn bốn chữ
【Hoàn ngân vấn nhân – Vết khuyên tai)】
Yêu cầu đoán tên một vở kịch trong phim thể loại Hoàng Mai điệu.
Cô khẽ nhếch môi cười, gỡ dải câu đố xuống. Một nhân viên mặc áo gile bước tới hỏi cô đáp án là gì. Cô đưa dải lụa lại, trả lời: “Trong vở Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài, là đoạn Lâu Đài Hội.”
Nhân viên lật cuốn sổ đáp án, cười rộ lên: “Đúng rồi!” Nói xong, anh ta đi sau bàn công tác lấy món quà tương ứng. Đó là một chiếc hộp giấy nhỏ đơn giản, thắt nơ có đính một chiếc đèn lồng vàng nhỏ xíu. Dưới sự chỉ dẫn của nhân viên, Vưu Tri Ý ký tên nhận quà.
Rời khỏi bàn công tác, cô mở ra xem. Bên trong là một đôi hoa tai văn hóa sáng tạo và một chiếc khăn choàng màu trắng được gấp gọn. Hành Tông Ninh nhìn món quà trong hộp, quả thực rất khớp với đáp án, anh cũng cười theo, hỏi cô: “Đoán ra đáp án nhanh vậy sao?”
Vưu Tri Ý ôm chiếc đèn Ngao Ngư vào lòng. Cây gậy tre có sức nặng không dễ điều khiển, Hành Tông Ninh thấy vậy bèn đưa tay cầm giúp cô.
Cô khẽ nói: “Cảm ơn anh.”
Cô lấy đôi hoa tai ra khỏi hộp, hỏi: “Bình thường Hành tiên sinh có nghe kịch không ạ?”
Hành Tông Ninh đáp: “Thỉnh thoảng.” Dường như đoán được cô vẫn còn điều muốn nói, anh hơi nghiêng đầu, kiên nhẫn chờ đợi.
Vưu Tri Ý hắng giọng, bất ngờ diễn một đoạn kịch truyền thống bằng tông giọng nửa đùa nửa thật:
“Anh Đài chẳng phải thân nữ nhi, cớ sao vành tai lại vương vết sẹo tròn?”
“Vết khuyên tai ấy vốn có căn nguyên, huynh trưởng hà tất phải nghi ngờ. Chẳng qua dân làng em vốn trọng việc tế thần, năm nào em cũng được chọn đóng vai Quan Âm Bồ Tát. Lương huynh à, người học trò nên giữ lòng thanh tịnh để dùi mài kinh sử. Anh không lo nghĩ tiền đồ, lại cứ bận lòng chuyện nữ trang y phục của em là sao?”
“Anh…”
Cô không biết hát theo điệu kịch, chỉ dùng giọng phổ thông đọc ra. Để phân biệt nhân vật, khi đọc đến lời của Chúc Anh Đài, cô hơi nghiêng đầu đeo đôi hoa tai đó lên. Đó là sản phẩm thủ công pháp lam phong cách quốc cổ, đính hai viên mã não đỏ chất lượng không tính là quá tốt.
Gió đêm mùa đông thổi tung mái tóc bên tai cô, bóng lưng cô hòa vào bức tường trăm đèn phía sau, ánh đèn vàng kim phủ lên người cô một lớp hào quang. Cô cứ thế nghiêng đầu nhìn sang một cái, nhưng lời kịch trên môi bỗng nhiên khựng lại, dường như nhớ ra điều gì đó, cô không đọc tiếp nữa.
Hành Tông Ninh nhìn cô, ánh mắt dời từ đốm đỏ đang đung đưa bên chiếc cổ trắng ngần sang đôi mắt cô. Vài tia sáng đèn lồng rơi trên chân mày anh.
Một lúc sau, anh mở lời: “Từ nay anh chẳng dám nhìn Quan Âm.”