Chương 12: Tây Viên Trúc Mọc (6)
Đời người tám nỗi bể dâu. Lòng mang thương cảm, thêm sầu thêm vương
….
Sau khi tận mắt thấy bóng áo xanh biếc của đối phương khuất dần trong khu vườn xưa, Yên La tiến lại gần hỏi: “Hắn đã nói gì với nương nương?”
Lạc Vi không đáp, cung nhân trong vườn vẫn chưa được gọi trở lại, nàng vịn cột đứng dậy, bỗng như thiếu nữ khuê phòng, khẽ hất tay áo triều phục rộng thùng thình, giũ rơi những cánh hoa. Rồi dứt khoát cởi bỏ áo ngoài, nâng lớp váy chồng chéo, vượt qua lan can, trực tiếp nhảy xuống dưới tán cây hoa.
Yên La đỡ lấy chiếc áo choàng nặng nề, lo lắng gọi: “Nương nương...”
Lạc Vi nhắm mắt, dang hai tay, như thuở thanh xuân rực rỡ nhất, xoay một vòng dưới gốc cây.
Trâm cài va vào nhau leng keng, châu ngọc chạm khẽ lắc lư như sắp rơi, nàng lại hoàn toàn không để ý.
Yên La ôm áo choàng đi vòng từ hành lang tới, thấy hoàng hậu đã dừng lại, đang ngẩng đầu nhìn khoảng trống giữa tán hoa.
Ánh nắng vỡ vụn, hoa mới rơi lả tả. Đang giữa tiết xuân rực rỡ, cớ sao lại sinh nỗi buồn?
Yên La cẩn thận đặt áo ngoài của nàng vào trong điện, rồi từ góc tối trong nội thất bưng ra một chậu mai bệnh, khô héo, xấu xí, cành nhánh trơ trọi.
Lạc Vi nhận lấy kéo tỉa, ngắm nghía một lúc, rồi tay vừa động đã dứt khoát, không chút do dự, cắt phăng cành thấp nhất sát thân cây.
Cành tuy đã khô, nhưng sau khi cắt đi, trên thân vẫn để lại một vết sẹo gỗ mờ nhạt. Nàng tiện tay vứt cành ấy đi, ôm chậu mai trong tay, rất lâu không nói gì.
Yên La ngẩng nhìn, giữa cơn mưa hoa, vị hoàng hậu trẻ tuổi tuy trên môi vẫn có nụ cười, nhưng trong mắt lại lấp lánh một tầng nước mắt mơ hồ.
“A Phi, cùng ta niệm một quyển kinh Phật cho Bộ Quân đi.”
Trong lòng nàng dâng lên một cơn đau âm ỉ, chua xót. Bởi nàng biết, Bộ Quân chính là tên tự của Trương ty y.
___
Cuối thời Xương Ninh, Trương Bộ Quân mười bốn tuổi xin nghỉ phép tại Lăng Cẩm Viện để may áo tang cho người bạn cũ là Tô nương tử - thiên kim của Tể phụ đương triều - mà không lấy một đồng nào.
(*) Ở triều Tống, “nương tử” là cách gọi nữ tử, không phải chỉ thê tử. Đặc biệt, ở triều đại này đừng tùy tiện gọi con gái nhà người ta là tiểu thư, vì từ này chỉ gái thanh lâu.
Khi ấy, Thái tử Thừa Minh cũng đang ở trong Tô phủ. Chính từ một lần vô tình chạm mặt ấy, nàng quen biết thân vệ của thái tử.
Phó chỉ huy Kim Thiên Vệ, Lộc Hằng, tự Phùng Ưng.
Chàng thiếu niên tuổi xuân, khoác áo tay hẹp cài trâm vàng, theo sau vị thái tử tôn quý. Thanh đoản đao chạm hình rắn cuộn lạnh lẽo, sống lưng thẳng tấp như chậu trúc xanh nàng trồng trước cửa sổ.
Bộ Quân nghe nói, toàn bộ Kim Thiên Vệ đều là những kẻ xuất thân hàn vi được thái tử tuyển chọn từ khi còn nhỏ, trải qua rèn luyện đao thương quyền cước suốt nhiều năm, ngàn lần tôi luyện mới thành tinh nhuệ.
Hắn lại càng là người nổi bật nhất trong số đó.
Khi Bộ Quân nhìn hắn, nàng không hề biết rằng, ở một khoảnh khắc khác hắn cũng từng lặng lẽ nhìn nàng, khi nàng ngồi bên cửa sổ, tỉ mỉ thêu lên ống tay áo của thái tử một đóa hải đường, đôi tay trắng nõn thoăn thoắt như mây, tự mang một nét phong tình khó tả.
Năm ấy, Tô nương tử và thái tử Thừa Minh đính hôn, nhưng vì đang chịu tang cha nên hôn kỳ phải dời lại.
Hoàng đế để mừng việc này, đổi niên hiệu năm sau thành Thiên Thú.
Năm đầu Thiên Thú, Bộ Quân được thái tử phi yêu mến, nên từ Lăng Cẩm Viện được điều vào nội cung.
Thái tử được hoàng thượng thương yêu vô vàng, dù đã sớm hoàn thành lễ đội mũ, được ban phủ riêng, vẫn thường xuyên ra vào cấm cung.
Cơ hội để Bộ Quân và Lộc Hằng gặp nhau cũng vì thế mà nhiều hơn.
Năm Thiên Thú thứ ba, thái tử bị ám sát.
Khi Bộ Quân hay tin, Lộc Hằng đã được điều đến bên cạnh tân đế vừa vội vã đăng cơ. Nàng không vì công danh phú quý theo đó mà vui mừng, chỉ cần hắn không bị liên lụy, không tổn hại trong vụ ám sát ấy, đã là điều đáng tạ ơn thần phật.
Trữ quân đã chết, Tô nương tử gả cho tân đế, bước vào trung cung.
Bộ Quân rất được trọng dụng, trở thành nữ quan ty y của nàng.
Tân đế đổi niên hiệu thành Tĩnh Hòa.
An bình, hòa thuận, tuy chẳng hợp với cảnh đao quang kiếm ảnh nơi triều đình, nhưng lại là ước mong lớn nhất của một kẻ nhỏ bé như nàng.
Đầu đông năm Tĩnh Hòa thứ ba, Bộ Quân hạ quyết tâm xin ân chỉ rời cung. Nàng đã đến tuổi, tuy ở lại trong cung làm quan tiền đồ rộng mở, nhưng nàng không muốn, chỉ cần có thể thuận lợi gả cho người mình yêu đã là phúc phần khó cầu.
Vốn dĩ, đây nên là một câu chuyện bình lặng, ngọt ngào, đến đây thì khép lại.
Nhưng ngày hôm đó, khi Bộ Quân đến từ biệt hoàng hậu lại bất ngờ được báo rằng hoàng hậu nhiễm phong hàn, đang nằm liệt giường không dậy nổi.
Vì nàng vốn là người thân cận của hoàng hậu, cung nhân liền cho nàng vào.
Trong phòng đốt hương nồng đậm, thậm chí có phần hắc mũi. Nàng ngửi thấy mùi đàn hương, còn những mùi khác thì hòa lẫn vào nhau, không phân biệt rõ.
Khói hương lượn lờ, tựa như chốn bồng lai tiên cảnh. Nàng vén lớp sa mỏng trong điện, nhón chân bước lại gần, thì thấy giữa tiết trời đầu đông sắc lạnh như lưỡi dao, hoàng hậu chỉ mặc trung y, tóc dài xỏa rối, bất chấp lễ nghi mà ngồi sụp trước giường, ôm chặt một thứ gì đó trong lòng, quý trọng đến mức như muốn ép nó vào tận thân thể mình.
Nghe tiếng bước chân, hoàng hậu ngẩng đầu. Vẻ mờ mịt trên mặt còn chưa tan, vừa thấy nàng, môi run lên hai cái, nước mắt đã rơi xuống hai hàng, rồi run giọng gọi: “Bộ Quân!”
Nàng đã từng thấy bộ dạng như vậy của Lạc Vi bao giờ đâu? Sợ hãi đến mức lập tức quỳ xuống, nhưng lại không chịu giống như những cung nữ tầm thường mà không dám tiến lên. Vì vậy nàng quỳ mà tiến lại, đỡ lấy thiếu nữ đang thất thố kia: “Nương nương... rốt cuộc là vì sao...”
Lạc Vi đưa tay ôm lấy cổ nàng, bật khóc thành tiếng.
Trong lòng Bộ Quân dâng lên nỗi chua xót. Nàng nhớ lại khi Lạc Vi còn chưa được phong hậu, từng cho nàng ở lại trong phủ, nửa đêm thắp đèn, mang bánh đến rồi cùng trò chuyện suốt đêm.
Hai người vốn rất hợp ý nhau. Năm xưa cha mẹ nàng đều mất, nếu không nhờ nàng và tiên thái tử vô tình để mắt tới mà ban ân, Bộ Quân làm sao có thể thuận lợi trở thành thợ thêu xuất sắc nhất Lăng Cẩm Viện rồi từng bước vào cung, rực rỡ như ngày hôm nay?
Nhưng ân nhân cứu mạng ấy đã không còn là thiếu nữ vô tư năm nào. Giờ đây, nàng đang khóc đến đứt ruột đứt gan trong vòng tay nàng.
Nàng là hoàng hậu, đau buồn đến vậy cũng không thể để người ngoài nghe thấy, chỉ có thể gắng gượng kìm nén.
Đau đến xé lòng, mà lặng lẽ không tiếng.
Bộ Quân lấy hết can đảm, như trước kia, nhẹ nhàng vuốt mái tóc dài của đối phương để an ủi. Ánh mắt vô tình lướt qua, lại nhìn thấy chiếc hộp trong lòng nàng.
Chiếc hộp bằng gỗ kim tơ nam* được chạm khắc đủ loại hoa cỏ. Người thợ dường như cố ý khắc cả mùa xuân lên đó, nên hoa lá sum suê, xanh tốt rực rỡ.
(*) Kim tơ nam mộc (金丝楠木): Một loại gỗ cực kỳ quý hiếm, được ví như “quốc mộc” hay “gỗ hoàng đế”, thường dùng cho hoàng tộc Trung Quốc xưa. Đặc trưng bởi vân gỗ như tơ vàng óng ánh, tỏa hương thơm, bền bỉ, không nứt nẻ và có giá trị kinh tế siêu cao, thậm chí hàng ngàn tỷ đồng/cây lâu năm.
Nhưng màu của gỗ kim tơ nam cổ xưa như vậy, dường như khiến cả sắc xuân cũng trở nên ảm đạm.
Điều khiến Bộ Quân kinh ngạc không phải là mùa xuân u ám ấy.
Mà là nàng chợt nhận ra, mình từng thấy chiếc hộp này!
Hình như là không lâu sau án Thích Đường, trong một đêm bình thường nào đó, Lộc Hằng hiếm khi đến muộn vào ngày không phải trực. Ở ngoại trạch của hắn, nàng từng vô tình liếc thấy. Khi ấy còn tưởng đó là quà tặng cho mình, nhưng về sau lại không hề thấy nữa.
Trong hộp là một khối ngọc bội hình hoa hải đường.
Khi nắp hộp được mở ra trong khoảnh khắc ấy, Bộ Quân rõ ràng nghe thấy, trong khoảng không hư vô, như có một sợi dây đàn bị kéo căng đến cực hạn rồi đột ngột đứt phựt.
Có thứ mà khi ấy nàng chưa thể gọi tên, theo nắp hộp trượt xuống, chấm dứt hoàn toàn cuộc đời vốn có thể nhìn thấy tận cùng của nàng.
Kể từ khoảnh khắc nàng cố chấp cầu xin hoàng hậu mở chiếc hộp ra, mọi thứ đã không thể quay lại nữa.
Bộ Quân là nữ quan ty y của Lạc Vi, sao có thể không biết ý nghĩa của khối ngọc bội này, đó là tín vật do chính thái tử đích thân chạm khắc tặng cho vị hôn thê của mình.
Trước khi án Thích Đường xảy ra, Lạc Vi đã đánh mất khối ngọc ấy.
Sau khi phát hiện, Lạc Vi sốt ruột đến mức sai toàn bộ người làm ra ngoài tìm kiếm. Nàng cũng từng giúp Lạc Vi lục soát khắp từng góc chợ náo nhiệt, nhưng vẫn không thu được gì.
Nhưng sao bây giờ nó lại ở đây, trong chiếc hộp gỗ này?
Mà chiếc hộp này vì sao trước đó lại từng ở chỗ Lộc Hằng?
Lạc Vi ghé bên tai nàng, nói từng chữ một, rằng chưa từng nghĩ sẽ còn có ngày gặp lại khối ngọc này.
Ở ngay trong một chiếc hộp cũ của Tống Lan.
Bộ Quân vội vã rời đi, lời nói không rõ ràng. Nhân lúc Lộc Hằng chưa trở về, nàng lục soát kỹ lưỡng nơi ở của hắn trong cung, nhưng không tìm được gì.
Vẫn chưa yên tâm, nàng lại tìm cơ hội đến ngoại trạch của hắn để lục soát. Lần này, cuối cùng nàng cũng tìm thấy một xấp thư dày.
Nói là thư, thật ra không phải, đó là những tờ giấy bỏ đi mà Lộc Hằng đã cẩn thận bắt chước nét chữ của người khác. Hắn luyện vô cùng tỉ mỉ, dường như trên mỗi tờ giấy nháp chỉ tập viết một chữ.
Nét chữ ấy lại vô cùng quen thuộc, tim Bộ Quân đập loạn, nàng lật từng trang về sau.
“Đọc, thư, chớ, nhớ,...”
Xấp giấy này được giấu dưới giường hắn, ở nơi kín đáo nhất, có vài tờ còn có dấu cháy sém ở góc, hẳn là vốn định đốt đi, nhưng vì chuyện gì đó mà hoãn lại, sau đó lại quên mất.
“Đọc thư chớ nhớ? Đọc thư chớ nhớ?”
Bộ Quân lẩm bẩm lặp lại rất lâu, tay càng lúc càng run. Những ký ức xưa cũ ập đến, nàng mơ hồ nhớ ra, đây dường như là bức thư trước kia Lạc Vi từng tiện tay viết cho nàng.
Khi đó, Lạc Vi theo hoàng thất xuống Giang Nam tuần xuân, nên viết thư kể cho nàng những loại vải mới mẻ đã thấy, những kiểu thêu thịnh hành ra sao, còn nhờ nàng may y phục giúp.
Chỉ có một bức thôi, một bức thư duy nhất.
Vì sao bức thư này lại rơi vào tay Lộc Hằng? Hắn tỉ mỉ bắt chước nét chữ của Lạc Vi rốt cuộc là có ý đồ gì?
Nàng trượt xuống ngồi bệt bên giường, mồ hôi lạnh chảy ròng.
Sau khi mùa đông qua đi, vào một buổi hoàng hôn u ám, Bộ Quân hẹn Lộc Hằng đến Tây Viên, nơi hai người từng thường xuyên lén gặp nhau.
Hắn không đến muộn, khi bước vào bước chân vội vã, vừa đi vừa tháo miếng bảo vệ cổ tay khắc kỳ lân: “A Quân, hôm qua vừa mới gặp, sao hôm nay lại muốn hẹn ở đây? Chỉ vài ngày nữa nàng sẽ rời cung, đến lúc đó...”
Bộ Quân quay người lại, nhìn gương mặt quen thuộc đến không thể quen hơn, run giọng hỏi: “Vì sao ngươi lại phản bội điện hạ?”
Những ngày qua, nàng cố nhớ lại, càng nghĩ càng kinh hãi, dường như từ rất lâu trước, nàng đã từng thoáng thấy hắn trước điện của Tống Lan, ở ngoại trạch của hắn, có lần nàng thấy hắn pha loại trà Cố chử tử duẩn* mà tể phụ Ngọc Thu Thực ưa thích, sau án Thích Đường, hắn dẫn toàn bộ Kim Thiên Vệ quy thuận tân đế. Khi Kim Thiên Vệ vì chủ cũ mà tế kiếm ba ngày, hắn thậm chí không rơi một giọt nước mắt.
(*) Cố chử tử duẩn (顾渚紫笋): Một loại trà xanh nổi tiếng thời xưa, sản xuất ở vùng núi Cố Chử (Hồ Châu), từng được dùng làm trà tiến cống cho hoàng gia. “Tử duẩn” nghĩa là búp trà non có sắc tím, hình dáng như măng, tượng trưng cho loại trà thượng hạng, hương thanh vị dịu, thường được giới quyền quý ưa chuộng.
Trước đó Lộc Hằng còn không chịu thừa nhận, nhưng thực sự không trả lời nổi bao nhiêu nghi vấn của nàng, cuối cùng đành cụp mắt, bất chợt hỏi một câu: “Ta trung với ai, thờ ai thì liên quan gì đến vinh hoa phú quý, đến tiêu dao vui thú của ta và nàng?”
Bộ Quân không thể tin nổi, lùi lại một bước.
Lộc Hằng lại không chịu buông tha, từng bước ép tới, dứt khoát nói thẳng lòng mình: “Bộ Quân, ta không cha không mẹ, từ nhỏ lớn lên trong Trường Phong Đường của Kim Thiên vệ. Nàng có biết ta sống những ngày tháng thế nào không? Đao kiếm vô tình, thân ta đầy thương tích mà không dám lơi lỏng dù chỉ một giây, ta sợ bị vứt sang một bên, thành cô hồn không tên!”
Bộ Quân nắm chặt cánh tay hắn, giọng bi thiết: “Điện hạ tin tưởng ngươi đến vậy, dốc lòng bồi dưỡng, sau này ra trận lập công, phong hầu bái tướng cũng chỉ là chuyện sớm muộn. Người sống trên đời ai mà không khổ? Ngươi đã từng nghĩ chưa, nếu không có điện hạ, không có nương nương, có lẽ chúng ta từ lâu đã thành cô hồn dã quỷ, còn nói gì đến tương lai?”
Lộc Hằng cười khẩy: “Phải, điện hạ đối với ta ân nặng như núi, nhưng nàng không biết, điện hạ cũng không biết, dù là công danh lợi lộc hay danh vị tướng soái, ta đều chẳng thèm! Ta chịu khổ từ nhỏ, lớn lên lại càng khát khao được sống buông thả. Cờ bạc, kỹ viện, làm tiền giả, ta đều đã làm cả rồi. Nếu không nhờ bệ hạ hiện nay che giấu, vị điện hạ tốt của nàng e là đã sớm lấy mạng ta! Đã thế, chi bằng ra tay trước còn hơn, khỏi phải nơm nớp lo sợ, sống trong nỗi sợ bị hắn phát hiện!”
Mưa chiều vừa rơi, qua làn nước mắt nhòe đi, Bộ Quân nhìn thấy người mình từng yêu trong chốc lát trở nên hoàn toàn xa lạ, chậm rãi rút thanh đoản đao bên hông.
Yêu nhau nhiều năm, thực ra hắn chưa hề có ý giết nàng, thậm chí giọng nói còn dịu đi: “Bộ Quân, nàng sắp rời cung rồi. Sống chết ân oán của những kẻ quyền quý ấy thì liên quan gì đến chúng ta? Ta đã cố gắng sửa sai rồi, chuyện cũ không dám nói ra, cũng là sợ dọa nàng. Từ nay về sau, nàng cứ coi như không biết gì, chẳng phải tốt sao?”
Nàng nhìn hắn, không nhịn được bật cười.
Hắn còn tưởng nàng đã nghĩ thông, định tiến đến ôm nàng như trước. Nào ngờ nàng lại nắm chặt cánh tay hắn, tự lao vào lưỡi dao hắn còn chưa kịp thu lại.
Lưỡi dao chém ngang trước ngực. Lộc Hằng thu đao rất nhanh, chưa phải vết thương trí mạng. Hắn ôm lấy vai nàng, nghiến răng hỏi: “Nàng làm vậy để làm gì? Rốt cuộc vì ai?”
Bộ Quân không đáp, máu theo mưa loang ra, nhuộm đỏ Tây Viên.
Hắn buông tay, định đi tìm đại phu cho nàng, nhưng vừa ra khỏi Tây viên không lâu thì bỗng sực tỉnh, nơi này quanh năm đóng kín, không một bóng người, thêm một thi thể, e rằng nhiều năm sau mới có người phát hiện.
Nhưng nếu hắn tìm đại phu đến, người hắn yêu quyết liệt đến thế, liệu có vì giữ mạng cho hắn mà trước mặt hoàng hậu giữ kín không nói?
Lộc Hằng hạ quyết tâm, hắn đứng lặng rất lâu trong màn mưa, cuối cùng quay người trở lại, muốn nhìn nàng lần cuối.
Không ngờ trong cung thất cũ đã không còn bóng người, bên miệng giếng vuông kéo dài một vệt máu, sau khi hắn rời đi, nàng đã tuyệt vọng vô cùng, gieo mình xuống giếng.
Như vậy cũng tốt, chí ít không cần để hắn phải tự ra tay nữa.
Xuân đêm ấy mưa rơi, cuốn sạch mọi vết máu.
Hắn khóa lại cung thất ấy như cũ, gom đủ tất cả chìa khóa, mọi thứ dường như chưa từng xảy ra.
Liên tiếp mấy ngày, Lộc Hằng đều cảm thấy hoảng hốt.
Trương Bộ Quân là nữ quan sắp được xuất cung, không cần trực ban, không có chỉ lệnh thì chẳng ai hỏi đến. Vài người quen thân, cũng chỉ nghĩ nàng đã rời cung từ lâu.
Còn vị hoàng hậu mà nàng một lòng ghi nhớ, liệu có từng hỏi han một câu về sự biến mất của nàng không?
Lộc Hằng mang theo ý nghĩ châm biếm ấy, nâng tay uống trà do Nội thị tỉnh mới đưa đến. Hôm nay là Thượng Tỵ*, yến tiệc tại đài Điểm Hồng sắp diễn ra, Nội thị tỉnh đổi loại trà mới, hương vị khác với trước đây hắn từng uống.
(*) Thượng Tỵ (上巳): Lễ xưa của Trung Hoa, ban đầu diễn ra vào ngày Tỵ đầu tiên của tháng ba âm lịch, về sau được định vào mồng ba tháng ba, nên còn gọi là tết Trùng Tam. Tương truyền đây là ngày sinh của Hiên Viên Hoàng Đế, vì vậy có tục lễ bái tổ tiên. Đồng thời cũng gọi là lễ “Phất hệ”, với nghi thức ra sông tắm gội để trừ uế, cầu phúc. Từ thời Hán trở đi, quan dân đều có lệ ra bờ nước tẩy rửa, rồi dần phát triển thành dịp du xuân, yến ẩm ngoài trời, mang ý nghĩa hội xuân và giao duyên.
Không hiểu vì sao, sau khi uống chén trà ấy, đầu óc hắn lại càng thêm mỏi mệt. Lại thêm mấy ngày nay vì vụ án mà lòng bất an, đến mức ngay cả khi tên văn thần tay trói gà không chặt bên cạnh giật đao, hắn cũng không kịp phản ứng.
Lạc Vi tìm lại tất cả những bộ xiêm y thiếu nữ mà Bộ Quân từng may cho nàng, giặt sạch, phơi khô, từng bộ một treo đầy trong khu vườn hải đường vừa chớm nở.
Yên La đứng bên cạnh nàng, thấp giọng nói: “Nương nương, trà của Lộc thị vệ, nô tỳ đã sai người mang đến rồi.”
Lạc Vi ngẩng đầu, dải lụa mỏng theo gió khẽ lướt qua gò má nàng.
Yên La tiếp lời: “Nương nương lần này hành sự gấp gáp, vẫn chưa chọn được người ‘đụng phải’ thích hợp, nếu xảy ra bất trắc...”
Lạc Vi chỉ nói: “Đến lúc rồi, thay y phục cho bản cung trước đã.”
Sau khi thay y phục xong, nội quan bên cạnh hoàng đế đích thân đến đón. Yên La theo sát phượng giá của hoàng hậu, cúi đầu tiến về phía trước. Gần đến Tây Viên, họ gặp một vị văn thần áo xanh.
“Vi thần tham kiến hoàng hậu nương nương, xin nương nương tha cho thần tội bất kính.”
Khi kiệu đi ngang qua vị quan trẻ ấy, nàng ngẩng đầu lên, bắt gặp ánh mắt đầy thâm ý của hoàng hậu.
Người được chọn, đại khái đã định.
“Trời hình như sắp mưa rồi, ngươi quay về một chuyến, dặn cung nhân thu dọn những y phục trong vườn đi.”
“Vâng.”
___
Yên La nhớ lại những chuyện cũ này, quỳ trên bồ đoàn trong nội điện ba quỳ ba bái. Nàng nhìn thấy hoàng hậu lấy ra bức thư tay mà Trương Bộ Quân đã nhờ người gửi đến vài ngày trước khi yến tiệc ở đài Điểm Hồng diễn ra.
Trong thư có kèm một chiếc chìa khóa bằng đồng và một chiếc nhẫn ngọc bích, đó là những thứ nàng đã trộm được từ tay Lộc Hằng vào ngày trước khi quyết tâm không muốn sống nữa.
Trong thư, nàng kể lại mọi thứ, nào là lễ vật, những lần gặp gỡ, kể cả những nghi ngờ,.. mà không giấu giếm điều gì, viết ra tất cả những mưu tính của mình. Đối với nàng, sự phản bội của người đầu ấp tay gối cộng thêm nỗi day dứt dày vò đêm ngày đã khiến nàng không còn đủ sức để tiếp tục chống chọi nữa.
Lạc Vi đọc lại bức thư, trong lòng nghĩ, người nằm bên gối của ta và ngươi đều là rắn rết, dù thông minh đến đâu thì trong thời gian ngắn cũng khó lòng mà nhận ra. Chính vì là người thân cận yêu thương nhất, nên khi chân tướng phơi bày, mới tuyệt vọng đến vậy.
Nhưng là người...
Người tốt trên đời thường khó sống lâu, có lẽ bởi vì quá kiên trì với đạo nghĩa trong lòng. Dù đạo ấy đã bị kẻ mang ác tâm giày xéo tan nát, vẫn có người trước ngã, người sau tiến lên.
Nàng vốn có vô số cách để khiến Trương Bộ Quân không phải chết, mà vẫn có thể trừ khử Lộc Hằng. Nhưng trước khi nàng kịp bày mưu, Trương Bộ Quân đã thay nàng đưa ra lựa chọn.
“Thiếp mang nỗi hổ thẹn, lấy thân đổi trả, chết cũng không hối. Nay dâng kế này lên điện hạ, nguyện dùng mạng này báo mối thù xưa. Kiếp sau nếu còn duyên, mong được gặp lại, lòng thanh thản, tâm sạch như xưa.
Bộ Quân tuyệt bút, kính cẩn dâng.”
“Quân” tức là tre, thẳng thắn, kiên cường. Dù là muôn loài hoa cỏ trên đời, cũng khó có được khí chất như vậy.
Yên La nhìn thấy trên bàn bên cửa sổ có tờ hoa tiên, là thư hồi đáp do chính hoàng hậu để lại:
“Tuổi xuân đang độ tươi xanh
Hoa vừa mới nở đã nhanh rụng rồi.
Ơn sâu chẳng dễ nào vơi
Tình kia cũng khó buông rời được đâu.
Đời người tám nỗi bể dâu
Lòng mang thương cảm, thêm sầu thêm vương.”
(*) Thời thị thịnh xuân, tân hoa linh lạc. Ân bất khả vong, tình bất năng khí, nhân thế bát khổ, kiêm hoài cảm thương (时是盛春,新花零落。恩不可忘,情不能弃,人世八苦,兼怀感伤). Tạm dịch: Đang độ xuân rực rỡ, hoa mới đã rơi. Ân không thể quên, tình không thể bỏ. Đời người có tám nỗi khổ, trong lòng lại càng chất chứa nỗi buồn và sự cảm thương.
Lạc Vi đem bức thư ghi chép tỉ mỉ mọi điều Trương Bộ Quân biết được, cùng tờ hoa tiên mình viết, ném tất cả vào lư hương, nhìn chúng cháy hòa thành một lớp tro tĩnh lặng.
“Tây Viên hoang phế, lại thêm án mạng, là chuyện chẳng lành. Truyền ý chỉ của bản cung, lệnh cho thợ làm vườn dọn sạch cỏ khô cũ, trồng hết thành trúc xanh.”
(*) Lời của tác giả:
Người có đạo đức càng cao thì càng dễ cảm nhận được đau khổ, thà tự ràng buộc mà chết còn hơn kéo dài hơi tàn mà sống.
Trong triết lý Phật giáo, tám nỗi khổ cốt lõi của kiếp người bao gồm: sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly (yêu mà phải chia lìa), oán tắng hội (oán hận lâu dài), cầu bất đắc (cầu mà không được), và ngũ ấm xí thạnh (bị mê lạc bởi những điều thấy được ).