Đăng nhập

Chương 42: Mưa Gió Triền Miên (5)

Ⓦ 3458 Chữ

Một đêm Đinh Hoa, gió mưa khắp lối, s ống chết cõi trần, chẳng lúc nào vơi

.....

Thường Chiếu lắc nhẹ chén trà trong tay, từ chối ý định rót rượu của Hứa Đạm: “Ta đã lâu không uống rượu, hôm nay trong tiệc cũng chỉ lấy trà thay rượu mà thôi.”

Hứa Đạm cũng không ép: “Bình Niên huynh là văn sĩ mà lại không thích uống rượu, thật hiếm thấy.”

Thường Chiếu hỏi: “Bạc Minh sinh năm nào?”

Hứa Đạm đáp: “Năm Hy Bình mười sáu, gọi là năm Khánh Hòa đầu tiên cũng được. Ta sinh cùng năm với thái tử Thừa Minh, hình như cũng cùng năm với vị Diệp đại nhân hiện đang rất được trọng dụng trong triều.”

Thường Chiếu khựng lại: “Ta lớn hơn ngươi hơn bốn tuổi.”

Hứa Đạm kinh ngạc: “Phong thái văn sĩ của Bình Niên huynh, ta thật không nhìn ra được. Vậy thì ta quả thực nên gọi một tiếng huynh trưởng rồi.”

Hắn đặt vò rượu xuống, rót trà cho Thường Chiếu: “Nói mới nhớ, sao Bình Niên huynh lại hiểu rõ án Thích Đường đến vậy? Chúng ta đều là sĩ tử năm ngoái, vụ án này cũng đã qua hai ba năm rồi. Ta thì ngu dốt lại mới đến, ngoài những chuyện ai ai cũng biết thì cũng chẳng biết thêm thứ gì.”

Thường Chiếu hơi ngừng lại, thản nhiên nói: “Ta cũng từng đến Biện Đô dự thi khoa thi năm Thiến Thú thứ ba, chỉ là lúc đó học chưa đủ, thi không đỗ mà thôi.”

Hứa Đạm chợt hiểu: “Thì ra là vậy, vậy xin huynh giảng giải cho ta đôi điều, cũng để giải đáp vài thắc mắc của ta.”

Thường Chiếu nhấp một ngụm trà, khẽ hắng giọng, “Ngày sinh của thái tử Thừa Minh đúng vào Thượng Nguyên. Từ năm ngài ấy ra đời, để mừng thọ thái tử, lễ Thượng Nguyên được kéo dài từ ba ngày thành năm ngày, năm nào cũng mở tiệc, cả nước cùng vui, năm Thiên Thú thứ ba cũng không ngoại lệ. Năm đó tiên đế trong cung mắc bệnh, đến nay người ta vẫn không rõ là bệnh gì, nặng nhẹ ra sao, chỉ biết sau khi lâm bệnh, tiên đế đã có ý truyền ngôi cho thái tử, đại tế ở sông Biện năm ấy cũng là do thái tử lấy nghi trượng của thiên tử mà thay mặt cử hành.”

Hứa Đạm lắc đầu tiếc nuối: “Thái tử Thừa Minh đúng thật là phong thái minh quân, năm xưa trị nạn châu chấu ở Hứa Châu, danh tiếng vang xa đến tận Bắc U... thật đúng là trời ghét người tài.”

Thường Chiếu khẽ gật đầu: “Đêm đó hỗn loạn, không ai biết loạn đảng đã lẫn vào đài Đinh Hoa từ lúc nào. Về sau chỉ nghe nói, nghi lễ tế vừa kết thúc đèn đuốc quanh đài đồng loạt tắt. Ngoài mấy Kim Thiên Vệ theo thái tử lên tế đài, những thủ vệ khác đều bị dòng người vây chặt, không thể thoát thân. Ngay trong khoảnh khắc ấy, có tử sĩ vượt qua vòng hộ vệ trước mặt Thái tử, liều chết đâm một kiếm. Thái tử không kịp phòng bị, bị thương rơi xuống nước. Kim Thiên Vệ trên đài đều tử trận, trong bóng tối xảy ra chuyện gì không ai hay biết.”

Hứa Đạm liên tục thở dài, không kìm được lại cầm vò rượu lên rót cho mình: “Đáng tiếc, đáng tiếc... Nhưng ta nghe nói thái tử thân thủ không tệ, sao lại dễ dàng bị chúng hạ gục như vậy?”

Thường Chiếu lắc đầu: “Không ai rõ cả, sau khi đèn tắt, trước đài hỗn loạn vô cùng, trong cơn náo loạn còn giẫm chết mấy người. Hung thủ ám sát Thái tử khi đó cũng không bị bắt. Mãi đến khi một Kim Thiên Vệ trọng thương, cũng là người duy nhất còn sống trên đài, gắng sức hô lớn, mọi người mới hay thái tử đã bị ám sát, lập tức phong tỏa sông Biện.”

“Tin truyền về cung, tiên đế lâm trọng bệnh, trong cấm cung chỉ hạ một lệnh truy bắt. Hoàng hậu nương nương đương triều dẫn Kim Thiên Vệ dọc sông Biện tìm kiếm suốt một đêm, rốt cuộc chỉ vớt được mũ miện của Thái tử, đến lúc ấy mọi người mới hay trữ quân đã mất. Tiên đế không chịu nổi tin dữ, cứ thế băng hà. Sau đó... chuyện ở Điểm Hồng đài, khi nhắc đến nương nương, hẳn Bạc Minh đã rõ rồi.”

Hứa Đạm nhíu mày: “Trước đó nói thái tử chết dưới tay bạo dân, huynh lại nói là sĩ tử năm xưa, ta càng nghe càng rối.”

Thường Chiếu chỉ ra ngoài cửa sổ: “Ngươi đến không đúng lúc. Năm ngoái đài Đinh Hoa tu sửa, không cho tế bái. Trên đài có một tấm bia Cuối năm Canh Tý diệt loạn học sinh, nếu ngươi từng xem qua, ắt sẽ hiểu. Ta hỏi ngươi, ngoài việc trị châu chấu ở Hứa Châu, công tích năm xưa của thái tử Thừa Minh còn một việc nữa, ngươi có nhớ không?”

Hứa Đạm suy nghĩ một lát, mắt sáng lên: “Đó là việc dẹp bỏ tục tế người ở phương Nam! Khi ấy vùng Lưỡng Quảng lan tràn tà giáo giết người tế quỷ, không chỉ dân địa phương bị hại mà cả người qua đường cũng bị dụ dỗ rồi sát hại. Nghe đâu có một vị đại nhân bị giáng chức đã chết trong vụ ấy, lại là bạn cũ của Thái tử thiếu sư Phương Hạc Tri. Vì bất bình cho thầy, Thái tử đích thân xuống Lưỡng Quảng, thống lĩnh binh mã, bố trí suốt hơn ba tháng, cuối cùng một lần quét sạch tà giáo, từ đó danh tiếng vang khắp thiên hạ.”

Thường Chiếu chấm tay vào nước, nhanh chóng viết lên mặt bàn ba cái tên: “Ba kẻ trên bia diệt loạn bao gồm: Lưu Phất Lương, Tả Thần Gián, Dương Trung, đều xuất thân từ vùng Lưỡng Quảng và Kinh Sở, nơi tà giáo giết người tế quỷ từng hoành hành. Sau khi thánh thượng đăng cơ, lại sai quan lại tra xét đại án Thích Đường, bắt được ba người này. Cả ba đều là tín đồ của tà giáo ấy, khăng khăng cho rằng thái tử Thừa Minh năm xưa dẹp bỏ tập tục đó, đáng bị trời trừng phạt. Nếu giết được ngài, ắt sẽ được thần linh phù hộ, thân thể bất hoại.”

Hứa Đạm nghe mà trợn mắt: “Những lời mê hoặc như vậy mà cũng có người tin sao?”

“Sao lại không?” Thường Chiếu mỉm cười, “Ba người này đều đọc đủ kinh sách thánh hiền, khoa thi mùa xuân năm ấy đều bảng vàng đề danh, ai ngờ lại gây nên đại án như vậy. thánh thượng và thái tử huynh đệ tình thâm, vừa đăng cơ đã bất chấp sự ngăn cản của thái sư, đem ba kẻ ấy lăng trì giữa chợ, lại sai người dựng tượng vàng thái tử trên đài Đinh Hoa, khắc bia ghi tội, bắt chúng quỳ dưới tượng mà chuộc tội.”

Hứa Đạm thở dài: “Tình cảm giữa bệ hạ và thái tử quả là hiếm thấy trong hoàng thất.” Nói rồi lại chợt thấy không ổn: “Nhưng ba người này đều xuất thân sĩ tử, sao có thể bày mưu lớn đến vậy, lại còn tìm được tử sĩ tiếp cận ám sát?”

“Đúng vậy, nên mới có cuộc liên lụy suốt bốn tháng,” Thường Chiếu nói, “Chắc là Bạc Minh cũng biết, sĩ tử vào kinh ứng thí phần lớn đều được các vị đại nhân để mắt, tá túc trong phủ họ. Ba người này cũng không ngoại lệ. Vụ án năm đó tra đến cùng, sao có thể chỉ có ba người? Những gia đình cho họ tá túc, những hoàng tử được các phe phái này ủng hộ...”

“Trên bia diệt loạn đã ghi rõ ràng, án Thích Đường vốn là âm mưu đoạt vị do Ngũ điện hạ Tống Kỳ cấu kết với tay chân thân tín cùng ba tên tín đồ tà giáo kia, dày công sắp đặt. Dù sao, ngoài thái tử Thừa Minh, người được tiên đế sủng ái nhất chính là hắn. Chỉ tiếc Ngũ điện hạ tính trăm điều lại sơ sót một điều, không ngờ tiên đế băng hà ngay trong đêm ấy. Hắn vội vàng liên lạc tay chân, dựng thế kế vị cho mình. Vốn dĩ phe văn thần lấn át thế gia là chuyện thường, nào ngờ Thái sư và Hoàng hậu chen ngang, đưa thánh thượng lên ngôi.”

Hứa Đạm chỉ từng nghe nói Tống Kỳ vì dính líu đến án Thích Đường mà bị ban chết, không ngờ phía sau lại khiến người ta chấn động như vậy.

“Ngũ điện hạ xưa nay không thích chính sự, chỉ say mê thi văn, thơ từ truyền khắp bốn biển, thư pháp người đời noi theo... sao lại có thể...”

Thường Chiếu khẽ cười, trong giọng mang theo vài phần châm biếm: “Ai mà biết được, say mê thi văn chẳng qua chỉ là lớp vỏ bề ngoài? Sinh ra nơi hoàng thất, tâm tư nào phải người thường có thể đoán. Quyền thế trên kim điện, một khi nhìn xuống thiên hạ, ai mà không động lòng? Kẻ vì nó mà bỏ mạng nhiều như cá qua sông, đến mức quên sạch tình nghĩa một đời, giết huynh đệ, hại bằng hữu, dấy nên bao sóng gió.

“Trở tay nổi gió úp tay mưa

Thói đời bạc bẽo kể sao vừa.

Quản Bão nghĩa xưa nay hiếm thấy

Người đem tình cũ ném như bùn.” (1)

Quyền lực hoàng gia ấy mà...”

Hắn nói tới đây, bỗng nhận thấy mình nói hơi nhiều, bèn đổi giọng: “Thôi bỏ đi, thôi bỏ đi, hạng phù du như chúng ta đâu đến lượt cảm thán? Tóm lại, năm đó người bị liên lụy không dưới trăm kẻ, phủ đệ của ba tên kia, Ngũ đại vương cùng đám cận thần đều bị giết sạch, thậm chí bị tru di mười tộc, từ khi Đại Dận khai quốc đến nay, hiếm thấy cuộc liên tọa nào rộng như vậy. Có điều vì Trữ quân tiếng thơm vang xa, lại chết thảm như thế, nên sĩ tử thiên hạ không những chẳng ai lên tiếng ngăn cản, ngược lại còn ca ngợi Kim thượng là người hữu tình.”

Hứa Đạm nghe đến đây, chỉ cảm thấy trong lòng dâng lên một nỗi uất ức khó nguôi. Không biết là vì vị trữ quân hiền minh chưa kịp đem lại thái bình cho thiên hạ đã phải bỏ mạng, hay vì những người vô cớ bị giết trong cuộc liên lụy tưởng như “không tìm ra sai sót” ấy.

Thái tử vô tội, vậy cuộc giết chóc rộng lớn này, liệu có phải là điều ngài muốn nhìn thấy không?

Cuối cùng hắn vẫn không dám nói ra, chỉ mượn ba phần men say, lẩm bẩm: “Một đêm Đinh Hoa, gió mưa khắp lối. Sống chết cõi trần, chẳng lúc nào vơi.”

Không biết bậc thánh quân đã khuất nhìn cảnh thế này, sẽ có cảm khái gì?”

“Bệ hạ nay còn nhỏ tuổi, trong triều Thái sư và phe cánh của Hoàng hậu giằng co, tuy chưa đến mức làm lỡ việc triều chính, nhưng suy cho cùng, trong ngoài đều bất ổn.” Thường Chiếu khẽ thất thần, như đang lẩm bẩm với chính mình: “Lưỡng Quảng vẫn còn tàn dư Tây Dã lẩn trốn, phương Bắc tuy tạm yên nhưng ai dám chắc liên minh các bộ sẽ không bất ngờ xâm phạm? Yến gia quân trấn giữ thành trì lại là cận thần của hoàng hậu, chỉ mong thái sư đừng giở trò cản trở... Giang sơn này nhìn thì vững, nhưng từng khắc từng giờ, chẳng phải vẫn chực chờ lung lay đó sao?”

Hắn do dự một lát, rốt cuộc vẫn cầm lấy vò rượu đồng đặt trên bàn của Hứa Đạm: “Hôm nay xem như ta và ngươi có duyên, cùng lo việc giang sơn, lẽ ra nên cùng nâng chén, không say không về.”

Hứa Đạm cũng xúc động: “Không say không về!”

___

Đêm ấy, Lạc Vi ngồi trong điện Quỳnh Hoa gảy đàn.

Sau khi yến tiệc ở hồ Hội Linh tan, Tống Lan giữ Ngọc Thu Thực và Diệp Đình Yến lại bàn việc. Nàng không tìm được cơ hội nói thêm với Diệp Đình Yến một câu, chỉ nhận được lời nhắn do Bùi Hy chuyển lại.

Diệp Đình Yến bảo nàng tạm thời đừng nóng vội, đợi hắn thăm dò hư thực của Thái sư rồi sẽ tính kế tiếp.

Không hiểu vì sao, trái tim vốn rối loạn của nàng lại lặng xuống một cách kỳ lạ sau khi nghe câu ấy.

Đó là một cảm giác khó diễn tả, như đang đơn độc giữa cơn mưa tầm tã, bỗng có người giương ô che cùng.

Dẫu không biết người ấy từ đâu đến, cũng chẳng rõ sẽ đi về đâu, nhưng có thể cùng nhau bước một đoạn trong mưa gió như vậy, đã là một thứ duyên phận khó cầu.

Duyên phận, nghĩ đến hai chữ ấy, Lạc Vi lại có chút khinh miệt.

Dù nàng vẫn chưa hoàn toàn nhìn thấu con người kia, nhưng nàng biết, trong tình thế này, hắn nhất định sẽ dốc sức bảo vệ nàng. Dẫu nàng tự mình cũng có thể tìm ra cách phá giải cục diện này, nhưng thêm một người tương trợ, trong lòng lại thêm một phần yên ổn.

Sau khi tịnh tâm, Lạc Vi vào nội thất, lấy ra cây đàn cổ đã nhiều năm không chạm tới. Nàng tự tay lau đi lớp bụi bám, rồi chợt nghĩ, nếu lúc này Diệp Đình Yến phản bội nàng, quay sang theo Ngọc Thu Thực thì sao?

Nghĩ hồi lâu, dường như cũng không quá đáng sợ.

Lạc Vi khẽ gảy dây đàn, phát hiện lòng mình cuối cùng cũng hoàn toàn bình tĩnh.

Nếu hắn thật sự chuyển sang nương nhờ kẻ khác, nàng đương nhiên không dám tự lộ bí mật riêng. Nhưng qua từng ấy lần giao tiếp, hai bên nắm giữ nhược điểm của nhau không ít, chỉ cần nàng cắn răng không để lộ việc mình đã biết, dù Tống Lan có nghi ngờ, cũng không dám dễ dàng động đến nàng.

Nhưng Diệp Đình Yến thì khác. Tống Lan muốn tìm tâm phúc cho mình, chỉ cần sinh nghi một chút sẽ lập tức vứt bỏ.

Công sức đổ sông đổ biển, hắn không ngu đến mức làm chuyện đó.

Lạc Vi nghĩ đến đây, liền hỏi một câu: “Hôm nay vị h Thường học sĩ kia sao lại không bị giữ lại?”

Yên La giúp nàng gỡ lại tua dây đàn, đáp: “Lúc cứu giá ở bãi Mộ Xuân, bệ hạ thấy Thường học sĩ cũng là người có tài. Chúng ta từ phía Lâm thị biết được hắn đã theo Ngọc Thu Thực, nhưng bệ hạ không hay biết gì nên mới trọng dụng.”

Lạc Vi nhíu mày: “Ngày dài tháng rộng, Chu Tước Ty sớm muộn gì cũng tra ra hắn là người của Ngọc Thu Thực.”

Yên La nói: “Vâng. Nhưng hai ngày gần đây, Lưu Minh Trung đột nhiên báo lại rằng Ngọc Thu Thực đã đứng trước bệ hạ mà dâng lời buộc tội Thường đại nhân kết giao khắp nơi, e có lòng riêng. Diệp đại nhân cũng hùa theo, khiến bệ hạ sinh lòng không vui, dần dần xa lánh.”

Thường Chiếu quả thật là một người nàng không nhìn thấu.

Hôm đó, Diệp Đình Yến vốn muốn nói với nàng về chuyện của Thường Chiếu, nhưng nàng đã lảng đi. Bởi trước khi tìm đến Diệp Đình Yến, Thường Chiếu đã đến bái kiến nàng trước.

Nàng đã sớm biết hắn lưỡng lự giữa hai bên, cũng không tin tưởng, nên tự nhiên không cần nghe Diệp Đình Yến nhắc lại.

Nhìn Thường Chiếu không giống kẻ ngu, sao lại không biết trong triều tối kỵ chuyện luồn lách khắp nơi? Làm như vậy tất sẽ lộ, nay bị Tống Lan xa lánh cũng là điều nằm trong dự liệu.

Lạc Vi nói: “Ngươi cứ tiếp tục sai người đến quê quán hắn điều tra kỹ thêm.”

“Vâng.”

Nàng ngồi trước đàn cổ, ngẩn người một lúc, rồi đem đặt nó lên án thờ trong nội thất. Ngón tay mảnh khảnh khẽ khảy, chậm rãi ngâm một bài thơ:

“Phượng Hoàng dưới núi mưa tan

Gió trong nước biếc, còn vương ráng chiều.

Phù dung một đóa mỹ miều

Nở rồi còn đượm dáng kiều dịu thay.

Cò đâu sải cánh ngang mây

Như mang tình ý đắm say lòng người.”

Nàng đàn một cách hờ hững, chợt nghe phía sau có tiếng bước chân khẽ khàng. Vì thế tiếng đàn bỗng trở nên dồn dập, thêm vài phần ai oán.

“Bỗng nghe trên bến đàn sầu

Tình sâu nén chặt, biết đâu người tường?

Khói tan mây lặng ven sông

Ngỡ như Tương nữ còn vương dáng người.

Đợi khi khúc nhạc tàn thôi

Ngoảnh nhìn chẳng thấy, núi trời xanh xanh.”

Ngâm xong, nàng quay người lại, thấy Tống Lan đứng phía sau.

Quay đầu quá nhanh, Tống Lan chưa kịp giấu đi vẻ âm trầm trên mặt, chỉ đành ho nhẹ một tiếng, thấp giọng hỏi:

“A tỷ... tỷ đang nhớ hoàng huynh sao?”

Lạc Vi trở tay khảy qua dây đàn, trong gian nội thất tĩnh lặng đến mức nghe rõ tiếng kim rơi, vang lên một tiếng đàn trong trẻo.

___

Dưới cùng một tầng mây u ám, Diệp Đình Yến bỗng giật đứt một dây đàn bên tay.

Chu Sở Ngâm ngồi đối diện hắn khựng lại một chút, nói: “Hôm nay tâm ngươi không tĩnh.”

Diệp Đình Yến khổ sở cười đáp: “Ta ít khi nào thấy tâm mình tĩnh lặng.”

Chu Sở Ngâm hỏi tiếp: “Vậy chuyện của nàng, ngươi đã nghĩ ra cách giúp nàng chưa?”

Diệp Đình Yến khẽ gật, rồi lại lắc đầu.

Chu Sở Ngâm thắc mắc: “Nghĩa là sao?”

Diệp Đình Yến đáp: “Nghĩ ra rồi, nhưng cách ấy không dùng được thì cũng chẳng khác gì chưa nghĩ ra.”

Nghe vậy, sắc mặt Chu Sở Ngâm trở nên nghiêm lại: “Rốt cuộc Ngọc Thu Thực đang nắm trong tay điểm yếu gì của nàng?”

Nghe câu đó, Diệp Đình Yến im lặng một lúc lâu.

Một hồi sau mới nói: “Ngươi có biết Phùng nội nhân trong cung của nàng là ai không?”

(*) Lời của tác giả:

Giáo phái giết người tế quỷ quả thực từng là một tà giáo ở vùng Lưỡng Quảng, cực kỳ man rợ và rùng rợn.

Chú thích:

【1】Là bài Bần Giao Hành của Đỗ Phủ.

Bản dịch: Những mối giao tình kết giao khi giàu sang thường chỉ trong khoảnh khắc đã đổi thay, lúc mưa lúc nắng, sớm chiều trở mặt, kẻ bạc tình bạc nghĩa lại đua nhau tìm đến, nhiều không sao đếm xuể. Người không thấy, giữa thế gian ngày nay, những mối thâm giao như Quản Trọng và Bão Thúc Nha, dẫu giàu sang hay nghèo khó cũng không đổi lòng, đã bị người đời xem nhẹ tựa đất bùn, vứt bỏ sạch trơn rồi sao?

【2】Trích từ “Giang Thần Tử: Cùng Trương Tiên làm thơ về cảnh hồ, chợt nghe tiếng đàn tranh” của Tô Thức.

Tạm dịch: Dưới núi Phượng Hoàng, mưa vừa tạnh, mây nhạt gió trong, ráng chiều rực rỡ. Một đóa sen tuy đã qua độ nở rộ, vẫn giữ vẻ đẹp đẽ, thanh sạch. Chẳng biết từ nơi nào bay tới một đôi cò trắng, dường như cũng đem lòng say đắm trước dung nhan của người gảy đàn tranh.

Bỗng nghe trên sông vọng lại khúc điệu ai sầu, chan chứa nỗi đau, thử hỏi có ai nỡ lòng ngồi nghe? Khói sương cũng vì thế mà thu mình, mây trời cũng vì thế mà nhạt sắc. Khúc nhạc ấy tựa hồ nữ thần sông Tương gảy đàn sắt, gửi gắm nỗi sầu trong lòng. Đến khi khúc nhạc vừa dứt, nàng đã phiêu nhiên khuất bóng, chỉ còn những ngọn núi xanh vẫn lặng lẽ soi mình bên hồ, tựa như tiếng đàn ai oán kia vẫn còn vương vấn giữa non xanh nước biếc.

Đọc mỗi ngày nhận 200 hạt
Đăng nhập, đọc 1 chương ≥ 1 phút — hạt dùng đổi hoặc giảm giá Gói VIP.
Đăng nhập nhận hạt
Sử dụng mũi tên trái (←) hoặc phải (→) để chuyển chương