Đăng nhập

Chương 17

Ⓦ 3278 Chữ

Nửa đầu đêm hôm đó Nhược Vũ ngủ khá ngon. Sau khi tắt đèn, dù có tiếng khách trọ đi lại hay tiếng chuột chạy nhảy dưới gầm sập thì đối với nàng cũng chẳng thấm tháp gì.

Đến nửa đêm về sáng, khi cả tòa thành đã hoàn toàn chìm vào tĩnh lặng, mọi người đều rơi vào giấc nồng thì Nhược Vũ lại nằm mơ.

Nàng lại mơ thấy dãy cung đài đó, những rãnh nước ngầm giữa các cung đài, phía cuối rãnh nước là rừng hoa, cạnh rừng hoa là hồ nước mênh mang, và cả mỹ nhân tuyệt sắc như khói như sương lơ lửng giữa không trung.

Đừng trở về.

Đừng trở về.

Đừng trở về.

Trong tiếng thở dài quen thuộc ấy bỗng nhiên lại có những âm thanh ầm ầm như tiếng sấm rền từ xa vọng lại, đánh thức Nhược Vũ đang chìm đắm trong giấc mộng.

Đó là tiếng trống sớm của một ngày mới, đã kéo nàng ra khỏi giấc mộng sâu.

Trời vẫn tối đen như mực. Mặc dù Hoàng đế đương triều không còn siêng năng chính sự như những năm đầu, vào những ngày lên triều chưa chắc đã xuất hiện đúng như quần thần mong đợi nhưng hễ đến ngày đó thì khi hồi trống sớm đầu tiên vang lên, dù có luyến tiếc chăn ấm nệm êm hay mỹ thiếp đến đâu thì các vị Tể tướng, Đại phu áo tím áo đỏ vẫn phải canh đúng giờ lần lượt cưỡi ngựa ra khỏi cổng phường, xách đèn lồng từ bốn phương tám hướng đổ về Đãi Lâu Viện để chờ đợi.

Nhược Vũ nằm trong căn phòng trọ đơn sơ lạ lẫm, nghe tiếng ngáy của ai đó vọng lại từ phòng bên, lặng lẽ chờ đợi bình minh.

Nàng biết rõ, nơi mỹ nhân trong mộng trú ngụ chính là hoàng cung.

Nàng nhất định phải đến nơi đó.

Ánh rạng đông dần hiện rõ, tiếng trống ngừng hẳn, lũ chuột biến mất, tiếng ngáy phòng bên cũng tắt lịm. Tiếng nước chảy rào rào không dứt, có người mở cửa đi ra, tiếng ho, tiếng trò chuyện, tiếng oán thán ông chủ hà khắc xen lẫn cả giọng Cao đại nương đang mắng nhiếc ai đó dưới lầu. Đây là buổi sáng đầu tiên Nhược Vũ bước chân vào Trường An.

Nàng thu dọn xong xuôi rồi đi xuống lầu, hình như Cao đại nương đã đổi đối tượng khác để mắng mỏ, bà ta đang đứng giữa sân giáo huấn gã tiểu nhị đã đưa nước cho nàng tối qua: “…Ăn thì no muốn chết, làm thì sợ mệt chết! Quét cái sân mà để ta phải gọi ba lần! Lão nương mở quán là để kiếm tiền chứ không phải Quan Âm phát chẩn mà nuôi không lũ lười các ngươi! Đứa nào cũng như nhau cả, định để lão nương hít gió Tây Bắc mà sống sao—”

Đang mắng hăng say chợt thấy Nhược Vũ đi ra, bà ta lập tức bỏ mặc gã tiểu nhị, thay đổi sắc mặt tươi cười đón tiếp: “Khách quan sao dậy sớm thế? Sao không ngủ thêm chút nữa?”

Gã tiểu nhị đang bị mắng cho hồn siêu phách lạc thấy vậy vội vàng lôi cái chổi chạy biến.

Nhược Vũ gật đầu đáp lễ: “Tối qua đa tạ bà chỉ điểm. Sáng nay không có việc gì nên tôi định đi xem thử.”

Cao đại nương cười bảo: “Đường hơi xa đấy. Ngươi may đấy, chỗ ta vừa vặn có chiếc xe đi giao hàng ở Đông Thị, ngay ngoài cửa thôi, cho ngươi đi nhờ một đoạn, cũng không thu nhiều đâu, chỉ bằng bát súp bánh quy thôi, đến Đông Thị rồi ngươi đi tiếp sẽ tiện hơn.”

Nhược Vũ cảm ơn, Cao đại nương tiễn nàng ra ngoài, dặn dò gã đánh xe đưa người đến nơi rồi mới quay người đi vào.

Nhược Vũ đi nhờ chuyến xe giao hàng đến Đông Thị, theo chỉ dẫn của gã đánh xe, nàng tiếp tục đi về phía Bắc dọc theo phố lớn và thuận lợi tìm thấy cửa Cảnh Phong nhưng lại chẳng thấy bản cáo thị nào như lời Cao đại nương nói. Nàng hỏi thăm lính canh mới biết đúng là có chuyện đó, nhưng vì kỳ thi sắp tới nên danh sách đăng ký đã đóng từ vài ngày trước. Nhược Vũ hỏi xem có cách nào bổ sung không, lính canh lộ vẻ thiếu kiên nhẫn: “Đến Đại Ân Tự mà xem! Mau đi đi, nơi này không được dừng lại!”

Lời lính canh mập mờ nên Nhược Vũ không tiện hỏi thêm, liền quay sang hỏi người qua đường về Đại Ân Tự mới biết nó nằm trong phường Vĩnh Hưng gần đó, là ngôi chùa do phủ Ninh Vương đương thời quyên góp xây dựng để cầu phúc cho lão Vương phi đã quá cố. Nàng tìm đến, vào chùa đi dạo một vòng, trước một bức tường ở phối điện nàng phát hiện có mấy người dáng vẻ như là họa công đang vẽ bích họa. Xung quanh có khoảng mười người đứng tụ tập từ xa, trông không giống khách hành hương mà họ cũng giống nàng, ăn mặc có vẻ thanh bần, trong đó có người lớn tuổi mặt mày ủ rũ mà cũng có thanh niên trạc tuổi nàng với ánh mắt tràn đầy khát vọng công danh. Tất cả đều chăm chú quan sát việc vẽ bích họa, không dám chớp mắt như thể sợ bỏ lỡ bất kỳ chi tiết nào.

Nhược Vũ hỏi thăm một người trông có vẻ dễ gần trong số đó.

Người này tầm ba mươi tuổi, ngũ quan đoan chính, ánh mắt sáng quắc, mặc chiếc áo bào lân sam thường thấy của giới trí thức, tuy cũ nhưng được giặt giũ sạch sẽ, đứng giữa đám đông trông rất nổi bật. Quả nhiên người này cũng nhiệt tình và hay chuyện, dường như biết khá nhiều.

Trò chuyện vài câu Nhược Vũ liền hiểu ra, lời tên lính canh lúc nãy cũng không phải là nói bừa.

Họa sư chính vẽ bích họa cho ngôi chùa này là Phương Sơn Tận, chức Họa trực thuộc Tập Hiền Điện trong cung. Vì bích họa chính ở tiền điện đã hoàn thành, chỉ còn lại những vị trí phụ ở phối điện nên hôm nay Phương Sơn Tận không có mặt ở đây mà do phó thủ Tống Bá Khang dẫn theo mấy họa công làm việc. Người này cũng là một trong những người phụ trách sơ khảo kỳ thi chiêu mộ họa sinh vừa qua.

Còn những người xung quanh đây đều là những người đã ghi danh xong và đang chờ ngày thi. Họ đến đây ngoài việc học hỏi thì còn hy vọng có thể tiếp xúc gần hơn với Tống Bá Khang, thậm chí là Phương Sơn Tận, nếu tạo được ấn tượng tốt thì biết đâu sẽ có ích cho kỳ thi.

“Chính là người đó!”

Y chỉ vào một họa sư khoảng bốn mươi tuổi đang nói. Người đó hiện đang nhíu chặt đôi mày, quát mắng một họa công trẻ tuổi.

Hóa ra các họa công đang cùng nhau vẽ một bức tượng các vị thiên vương phương Đông, ở giữa là Thiên vương mặt xanh, xung quanh có hàng chục thị vệ vây quanh, diện tích bức tranh to lớn phủ kín mặt tường, bút pháp vô cùng cầu kỳ. Họa công trẻ kia phụ trách vẽ một vị ngọc nữ cầm quạt ở góc tường, khi vẽ đến hoa văn trên váy áo có lẽ vì không cẩn thận nên vẽ hỏng, nhưng lại không muốn xóa đi sửa lại từ đầu, bèn thuận tay sửa thành một đóa hoa sen để che lấp. Chẳng ngờ bị Tống Bá Khang nhìn thấy, ông ta vô cùng tức giận, gọi người đó ra một góc vắng, lớn tiếng mắng nhiếc: “Đồ ngu xuẩn! Chỉ biết lười biếng láu cá! Ngươi tưởng ngươi sửa nét vẽ này thì người khác không nhận ra sao? Hôm nay may mà là ta, nếu để kẻ có tâm cơ nắm được thóp rồi kiếm cớ gây sự, ngươi có chết cũng không tiếc nhưng lỡ liên lụy đến người khác thì sao!”

Dù đã đưa người ra góc khuất nhưng vì xung quanh yên tĩnh nên tiếng mắng mỏ vẫn thoang thoảng lọt vào tai mọi người. Họa công trẻ mặt mày hoảng hốt quỳ xuống nhận lỗi, Tống Bá Khang lúc này mới thôi, sa sầm nét mặt quay ra tiếp tục vẽ tranh.

Người vừa nói chuyện với nàng nghe nàng nói vì lỡ thời cơ nên hôm nay muốn tìm cơ hội đăng ký bổ sung, bèn lắc đầu bảo: “Người này e là khó nói chuyện đấy.”

Nhược Vũ không muốn từ bỏ bèn đợi đến giữa trưa, chờ lúc Tống Bá Khang và các họa công tạm dừng công việc để ăn cơm nghỉ ngơi, nàng bèn đuổi theo gọi lại, trước tiên là cung kính hành lễ, sau đó trình bày mục đích của mình.

Tống Bá Khang lạnh lùng liếc nàng một cái rồi quay người đi thẳng.

“Tống phó trực, tôi từ nhỏ đã học theo phong cách vẽ của Diệp sư, khẩn cầu ngài cho tôi một cơ hội. Tôi sẵn lòng vẽ ngay tại đây, không dám làm chậm trễ chính sự của ngài, chỉ mong ngài liếc mắt xem qua một lần. Nếu không được thì tôi tuyệt đối không quấy rầy nữa.”

Gã họa công trẻ bị mắng lúc sáng đang đứng cạnh đó nghe vậy liền lầm bầm: “Lại thêm một đứa tự xưng là khổ luyện theo họa pháp của tổ sư nữa…” Lời còn chưa dứt đã bị Tống Bá Khang trừng mắt nhìn một cái sắc lẹm, bèn vội vàng ngậm miệng.

Tống Bá Khang buông một câu “quá hạn không đợi” rồi xoay người rời đi.

Nhược Vũ đứng lặng tại chỗ một hồi rồi quay lại nơi vẽ bích họa, âm thầm đưa cho một họa công ở lại năm mươi đồng tiền sau đó xin một tờ giấy hoàng ma, mượn bút rồi cúi xuống bàn vẽ tranh.

Người đàn ông nói chuyện với nàng lúc đầu cũng chưa đi, thấy nàng vẽ bèn đi theo đứng cạnh quan sát, hồi lâu không rời nửa bước. Gã họa công thấy vậy hỏi: “Lại là ngươi à? Tống phó trực bận lắm, sẽ không gặp ngươi đâu!”

Y lúng túng rời đi.

Nhược Vũ vẽ xong, ký tên rồi nhờ họa công chuyển cho Tống Bá Khang xem qua. Họa công nhận tiền của nàng nên đã nhận lời.

Nàng đặt bức tranh ở vị trí dễ thấy trên bàn làm việc, còn mình thì đứng đợi gần đó. Buổi chiều, thấy Tống Bá Khang quay lại từ xa, gã họa công quả nhiên dẫn ông ta đến trước bàn có bức tranh của nàng. Tống Bá Khang nhìn thấy bức tranh thì ban đầu lộ vẻ không vui, tùy ý liếc mắt một cái rồi định xua tay quay đi, nhưng rất nhanh sau đó lại dừng bước, do dự một lát rồi quay lại cầm bức tranh lên xem kỹ một hồi. Ông ta vẫy tay gọi gã họa công trẻ tuổi bị mắng lúc sáng lại, dặn dò vài câu, gã họa công liền vội vã chạy ra ngoài.

Nhược Vũ lúc này mới từ sau bức tường bước ra, đối phương trông thấy nàng thì mắt sáng lên, chạy tới hỏi: “Ngươi chính là Diệp Nhược Vũ đã để lại tranh sao?”

Nhược Vũ gật đầu xác nhận.

“Tống phó trực bảo ngươi năm ngày sau đến cửa Cảnh Phong tham gia kỳ thi Họa học! Giờ Tỵ chính, chớ có đến muộn!”

Nhược Vũ lên tiếng cảm ơn.

Chuyện hôm nay tuy nhiều trắc trở nhưng cuối cùng mục đích cũng đã đạt được. Nàng quay người bước ra khỏi Đại Ân Tự thì phát hiện người đã nói chuyện với mình lúc sáng vẫn chưa đi. Thấy nàng ra, người đó bước nhanh tới nói: “Tiểu lão đệ, ngươi cũng học theo họa pháp họ Diệp sao? Ta xem bức tranh ngươi vẽ tuy chưa gọi là tuyệt đỉnh nhưng cũng đã có vài phần công lực rồi.”

Nhược Vũ khiêm tốn: “Tôi chỉ là bắt chước học theo thôi, huynh đài quá khen, tôi không dám nhận.”

Người này gật đầu: “Diệp lão thần tiên không phải người phàm, nếu sau này tôi có được một phần mười họa công của ông ấy thì đời này cũng coi như không còn gì hối tiếc!”

Nhược Vũ cười nói: “Huynh đài nếu không còn việc gì khác thì tôi xin phép đi trước.”

“Đợi đã!” Người đó hào hứng nói: “Ta tên Chu Hạc, lần này cũng đến tham gia kỳ thi Họa học. Hôm nay tới đây vốn định quan sát vẽ tranh không ngờ lại gặp được ngươi, thật là có duyên. Nếu ngươi không chê thì có thể cho ta biết nơi nghỉ trọ không? Còn mấy ngày nữa mới đến kỳ thi, hay là chúng ta kết bạn, nhân lúc cảnh xuân tươi đẹp này cùng đi vãn cảnh danh thắng, đàm đạo tâm đắc về hội họa, thế chẳng phải rất tuyệt sao?”

Nhược Vũ khéo léo từ chối: “Được Chu huynh coi trọng tôi rất cảm kích. Chỉ là tôi thực sự có việc riêng cần làm, e rằng không thể đáp lại ý tốt của Chu huynh.”

Người tên Chu Hạc kia lộ vẻ thất vọng.

Nhược Vũ chắp tay chào rồi định đi thì lại nghe y nói tiếp: “Không giấu gì ngươi, gia phụ trước kia cũng từng làm việc trong cung, có phúc phần từng cùng Diệp lão thần tiên vẽ tranh, nhận được sự chỉ điểm của ông ấy nên hưởng lợi nhiều vô cùng. Sau này gia đình gặp biến cố sa sút nên ta mới phải trôi dạt đến tận bây giờ. Ta thấy ngươi chắc là mới đến Trường An không lâu, nếu nghĩ rằng chỉ cần họa kỹ cao hơn người là có thể nổi danh thiên hạ thì lầm to rồi! Cho dù có thể vào cung làm họa sư, thậm chí là Học sĩ Hàn lâm thì chỉ cần sơ suất một chút thôi cũng sẽ rước họa sát thân. Lúc trẻ ta từng theo gia phụ vẽ tranh trên lăng mộ của Tiên Chiêu Đức Hoàng hậu nên cũng biết đôi chút về những chuyện trong triều. Không dám nói là thấy rộng biết nhiều nhưng các quy tắc điển cố trong ngoài cung đình thì chắc chắn là ta biết rõ hơn ngươi. Ta thấy ngươi khí chất thanh tú, họa kỹ phi phàm nên rất mến mộ, mới thành tâm muốn kết giao. Ta ở nhà trọ Tứ Thông tại phường Sùng Nhân, nếu ngươi bằng lòng thì lúc nào cũng có thể đến tìm ta!”

Kết giao không phải mục đích của Nhược Vũ. Nàng một lần nữa chắp tay chân thành tạ ơn y rồi quay người rời đi.

Đường từ đây về nhà trọ không gần, cũng chưa chắc đã gặp được xe đi nhờ, Nhược Vũ sợ lại rơi vào cảnh túng quẫn như tối qua nên sau khi quay lại Đông Thị thì nàng tiếp tục đi về phía Tây để trở về.

Khu vực quanh Đông Thị và Tây Thị là nơi náo nhiệt nhất Trường An. Những kẻ có thể đặt nền móng kinh doanh ở đây nếu không phú thì cũng quý. Đi xuyên qua các phường, cảnh tượng phồn hoa náo nhiệt đập vào mắt, không nơi nào ở phía Nam thành có thể so sánh được.

Dù đường xá ngang dọc như bàn cờ nhưng sau vài khúc quanh, người mới đến rất dễ bị lạc giữa những ngõ hẻm chằng chịt. Để tránh đi sai hướng, Nhược Vũ dừng lại hỏi đường người qua lại, sau khi hỏi rõ phương hướng thì nàng tiếp tục bước đi. Đột nhiên nàng bước chậm lại, cuối cùng đứng khựng lại nơi góc phố.

Trong tầm mắt của nàng xuất hiện một cổng phường.

Đó là phường Vụ Bản, nó nằm liền kề Hoàng thành, hai bên chỉ cách nhau một con phố. Bên ngoài cổng phường phía Nam này có một cây thạch lựu không biết đã sinh trưởng ở đây bao nhiêu năm rồi, hình như chưa từng được cắt tỉa, tán cây vươn rộng tự do, che khuất gần một nửa bảng tên phường. Đang là mùa hoa lựu nở, từng đóa từng chùm chen chúc trên cành đua nhau khoe sắc. Nhìn từ xa, cả cây đỏ rực như một đám lửa đang rực cháy giữa không trung.

Cảnh tượng như vậy vốn dĩ rất hiếm thấy. Vì lý do an ninh mà khu vực gần cổng các phường không được phép trồng cây quá cao lớn. Chẳng biết vì sao nơi này lại là ngoại lệ.

Một luồng gió thổi qua, vài đóa hoa lựu tàn rơi lả tả từ trên cành xuống mặt đất bên ngoài cổng phường. Gần đó có một người nhỏ tuổi mặc đồ của thái giám trong cung đang cầm chổi và một chiếc túi vải nhỏ. Thấy hoa rơi, cậu ta lập tức tiến lại, quét hoa cùng vài chiếc lá rụng vào túi. Không chỉ vậy người qua đường ra vào cổng phường hình như cũng không dám lại gần, đều phải đi vòng qua cây hoa rồi mới tiếp tục hành trình.

Đứng bên kia đường, Nhược Vũ ngơ ngác nhìn. Trong đầu nàng bỗng hiện lên một khung cảnh.

Một bé gái mặc váy hồng, đeo túi thơm bội lan, cưỡi trên vai một người nội giám mặc áo xám ngoài ba mươi tuổi, ra sức dang rộng hai tay, muốn hái đóa hoa lựu to nhất trên đầu.

“Cao chút nữa! Cao chút nữa đi!”

“Không được hái, không được hái đâu!” Người nội giám khổ sở van xin, “Đây là hoa Đại vương đặc biệt tâu xin Thánh nhân chuyển tới để bổ khuyết Ngũ hành cho Tiểu Quận Chúa. Hái hoa rồi Đại vương mà trách tội thì nô tài biết làm sao!”

“Ta không quan tâm! Ta cứ muốn! Ngươi cao lên chút nữa—”

Sinh ra đã nhận hết sủng ái nên đã nuôi dưỡng thành tính cách tùy hứng của nàng.

“Tiểu Quận Chúa, người cẩn thận! Để nô tài hái cho người!” Nội giám đành phải nhượng bộ.

“Không được! Ta muốn tự hái cơ! Người khác hái ta không lấy đâu! Ngươi đứng kiễng chân cao lên là được mà!”

Người nội giám đành phải cố sức kiễng chân để đưa bé gái lên cao hơn một chút.

“Ta hái được rồi nè! Có đẹp không?” Nàng cài đóa thạch lựu vừa hái được lên cổ áo mình.

“Đẹp, đẹp lắm, Tiểu Quận Chúa làm gì cũng đẹp!” Nội giám vừa cười vừa thở dài.

Nàng cười vui sướng, tiếng cười trong trẻo vô tư lự như tiếng chim oanh, xuyên qua kẽ lá hoa lựu bay vút lên bầu trời cao.

Như thể bị điều gì đó vẫy gọi, khi Nhược Vũ nhận ra mình đã đổi hướng đi thì nàng đã băng qua phố, tiến về phía cây thạch lựu già đang nở hoa đỏ rực như lửa kia.

Đọc mỗi ngày nhận 200 hạt
Đăng nhập, đọc 1 chương ≥ 1 phút — hạt dùng đổi hoặc giảm giá Gói VIP.
Đăng nhập nhận hạt
Sử dụng mũi tên trái (←) hoặc phải (→) để chuyển chương