Chương 19
Đi tới bậu cửa đạo quán, Nhược Vũ cảm thấy sức lực toàn thân như đã cạn kiệt. Nàng đứng khựng lại một lát, cuối cùng mới gượng bước chân đi qua cánh cửa lớn này.
Trời đã ngả về chiều, người đi bộ và xe ngựa trên phố vẫn nườm nượp không ngớt. Vừa bước ra ngoài, màng nhĩ nàng bị những luồng âm thanh ồn ào ập vào, đập mạnh vào tim khiến lồng ngực như muốn nổ tung. Nàng cảm thấy khó thở, gắng gượng đi được vài bước thì từ bên cạnh có một cỗ xe ngựa lao tới rất nhanh. Nàng tránh không kịp, suýt chút nữa bị đâm trúng. Gã phu xe ngoái đầu mắng nàng là đồ mắt mù rồi đánh xe lao đi ầm ầm bên cạnh nàng.
Nàng hốt hoảng lùi lại cho đến khi tựa hẳn vào chân tường đạo quán mới dừng lại.
Chắc là do cả ngày chưa ăn gì nên nàng thấy chóng mặt, ù tai, sau lưng mồ hôi lạnh chảy ròng ròng, mắt hoa lên, người lảo đảo sắp ngã. Nàng vội vàng vịn tay vào tường để không bị ngã quỵ tại chỗ. Sau khi gượng dậy được thì nàng từ từ ngồi bệt xuống đất rồi mệt mỏi gục đầu xuống, nhắm nghiền mắt lại.
Cứ như thế, nàng tựa vào tường ngồi dưới đất cho đến khi cảm giác khó chịu trong người tan biến, nhịp tim dần bình ổn trở lại. Lúc này rất nhiều âm thanh mới lọt vào tai, nàng nghe thấy có người đang bàn tán về mình.
“…Người này làm sao thế? Có phải bị bệnh không?” “Hay là bị trúng nắng?” “Trông không giống lắm, có phải mùa hè oi bức đâu…”
Nàng từ từ mở mắt, ngẩng đầu lên.
Xung quanh có mấy người qua đường đang dừng chân nhìn mình. Có người thấy sắc mặt nàng vẫn trắng bệch, tốt bụng nhắc nhở rằng trong Trâm Tinh Quán có thiện đường, có thể vào đó nghỉ chân và xin hớp nước uống.
Nhược Vũ quệt vầng mồ hôi lạnh thấm ướt chân tóc trên trán, gượng cười một cái rồi đứng dậy, tiếp tục men theo bức tường cao của đạo quán đi về phía trước. Khi đi đến một cổng phường, thấy người đi đường ngoài phố đều vội vàng gấp gáp, nàng mới sực tỉnh: Hóa ra bên tai lại vang lên tiếng trống phố rầm rập báo hiệu giờ giới nghiêm.
Lại một màn đêm nữa buông xuống.
Nàng đứng lặng bên cổng phường hồi lâu cho đến khi tiếng trống phố cuối cùng dứt hẳn, cánh cổng phường trước mặt nàng từ từ khép lại.
Nơi nàng đang đứng là một trong những con phố phồn hoa bậc nhất kinh thành Trường An, ngày đêm huyên náo, đèn hoa không tắt.
Đêm nay Nhược Vũ lang thang vô định giữa ánh đèn lung linh rực rỡ, đi cho đến khi đôi chân không còn nhấc nổi mới quay lại Trâm Tinh Quán, tựa lưng vào một góc khuất nơi cửa sau ngồi suốt một đêm. Nơi này không có ánh đèn cũng chẳng ai qua lại, giữa bóng tối mịt mùng, nàng nhắm mắt đưa mình qua đêm thứ hai kể từ khi trở về.
Trời sáng, cổng phường Sùng Nhân gần đó mở ra. Tiểu nhị của nhà trọ Tứ Thông ngáp dài mở cửa lớn thì thấy bên ngoài có một thiếu niên dáng người mảnh khảnh đang đứng đó. Tuy y phục nhăm nhúm, sắc mặt nhợt nhạt nhưng lông mày và đôi mắt rất thanh tú, gã cứ ngỡ là sĩ tử từ xa tới kinh ứng thí định vào trọ. Nghe đối phương lên tiếng muốn tìm một người tên Chu Hạc đang trọ tại đây thì gã chỉ đường rồi bĩu môi:
“Cái gã họa tượng nghèo kiết xác đó à! Toàn ưỡn bụng giả làm kẻ no nê! Đã nợ tiền phòng nửa tháng nay rồi, bảo chuyển xuống gian tập thể thì không chịu, nếu không phải gã nài nỉ van xin thì ta đã đuổi đi từ lâu rồi!”
Trường An nhiều quý nhân, không ít sĩ tử nghèo khó khi tới đây dù phải vay mượn cũng muốn ở những nhà trọ hoặc tư gia tử tế một chút để tránh mất mặt, bị người đời coi khinh, từ đó ảnh hưởng đến việc giao du kết bạn. Phường Sùng Nhân liền kề hoàng cung, nằm giữa Đông Thị và Tuyển viện của Thượng thư tỉnh cũ, trở thành nơi hội tụ của đông đảo sĩ tử, đất chật người đông, giá phòng trọ tất nhiên cũng chẳng hề rẻ.
Chu Hạc chắc hẳn cũng ôm tâm niệm đó mà cố bám trụ ở đây.
Nhược Vũ tìm đến phòng y, gõ cửa nhưng mãi không thấy trả lời. Gõ thêm vài lần thì cửa mới hé ra một khe nhỏ, người bên trong nói vọng ra: “Sao sáng sớm đã tới đòi tiền rồi? Ta đã bảo rồi, vài ngày nữa là gom đủ thôi…” Khi ngước mắt nhìn rõ người tới thì y ngẩn ra rồi mặt hơi đỏ lên.
Người mở cửa chính là Chu Hạc nhưng dáng vẻ lúc này khác hẳn hôm qua: tóc tai bù xù, quầng thâm dưới mắt đen sì, thần sắc đầy vẻ ảo não. Cửa mở không rộng nhưng cũng đủ thấy bên trong bừa bãi không chịu nổi, khắp nơi là bản thảo tranh và những chậu nước bẩn dính đầy màu vẽ đã khô, trong góc còn chất đống một xấp giấy nhăm nhúm trông như bản thảo thơ văn.
Nhược Vũ gật đầu chào y, mỉm cười nói: “Mạo muội đến làm phiền Chu huynh từ sáng sớm. Nếu thuận tiện có thể cho tôi mượn chỗ nói chuyện không? Tôi có chuyện muốn thỉnh giáo Chu huynh.”
Chu Hạc nhanh chóng lấy lại bình tĩnh, mở cửa mời Nhược Vũ vào, tự giễu cười một tiếng rồi chỉ vào đống bản thảo: “Không giấu gì hiền đệ, gần đây ta quả thực túi rỗng mặt sưng, lại không muốn dời đến chỗ hạ đẳng chung đụng với đám thương nhân và phu khuân vác nên đành phải bán tranh để lo tiền lộ phí. Ngươi cũng biết đấy, không danh không tính, dù vẽ đẹp đến đâu cũng chẳng ai thưởng thức, chỉ có thể vẽ thuê cho các tiệm tranh. Đêm qua vẽ nửa đêm mới xong. Vừa nãy cứ ngỡ người của nhà trọ lại đến đòi tiền nên không dám thưa, không ngờ là tiểu lão đệ đại giá quang lâm, thật khiến ngươi chê cười rồi.”
Nhược Vũ nhìn qua, nội dung những bức tranh này đa số là mỹ nhân giữa khóm hoa, màu sắc diễm lệ, phú quý nồng đậm, thường dùng cho các tửu quán hoặc thanh lâu. Tuy là tác phẩm vẽ thuê, thời gian gấp rút nên các chi tiết không tránh khỏi rập khuôn nhưng đường nét tinh tế, biểu cảm và tư thế nhân vật đều có nét riêng, khi thì tình tứ, khi thì khẽ chau mày mỉm cười, tư thế đứng ngồi khác nhau, nếu không có công phu vẽ tranh nhiều năm thì không thể làm được.
Nhược Vũ cười nói: “Tôi họ Diệp, trong nhà hàng thứ hai, Chu huynh cứ gọi tôi là Diệp Nhị là được. Là tôi đường đột đến quấy rầy trước, Chu huynh không trách đã là may mắn của tôi rồi.”
Chu Hạc xua tay: “Hôm qua ta cứ ngỡ từ biệt ngươi là không còn cơ hội gặp lại, hôm nay ngươi tới ta cầu còn không được. Vừa nãy ngươi nói muốn thỉnh giáo, ta sao dám nhận, có việc gì ngươi cứ nói đi.”
“Nhớ ngày hôm qua Chu huynh có nói, huynh từng theo lệnh tôn vẽ tranh lăng mộ Chiêu Đức Hoàng hậu, tôi muốn biết chi tiết, huynh có thể cho biết không?”
Chu Hạc ngẩn ra, có lẽ không ngờ nàng đến sớm như vậy lại là vì hứng thú với chuyện này, nhưng rồi nhanh chóng đáp: “Đúng vậy, quả là có chuyện đó. Thánh nhân đương triều lấy niên hiệu là Càn Đức, ta nhớ đó là chuyện năm Càn Đức thứ năm. Còn về lăng tẩm chắc hẳn đã bắt đầu xây từ năm Càn Đức thứ hai, tiêu tốn nhiều năm, nhân công tính hàng chục vạn, thợ thuyền ngày đêm đục núi không ngừng mới bắt đầu thành hình để vẽ tranh. Không tính đám họa công vô danh vẽ lặt vặt thì họa sư có tên tuổi trong cung cũng khoảng mười hai mươi vị đều bị phái tới, tổng số họa công lên tới hàng trăm. Ta nhớ lúc đông người nhất, trong mộ thất giàn giáo san sát, đuốc lửa soi sáng ban đêm cũng như ban ngày.”
Nhược Vũ đứng lặng người.
Chu Hạc đang lúc hứng khởi bỗng thở dài một tiếng: “Cái gọi là ‘thờ người chết như thờ người sống’ tưởng cũng chỉ đến thế là cùng. Đời người ai chẳng đến lúc trăm tuổi, sau trăm tuổi được yên nghỉ dưới một tòa địa cung như thế cũng coi như vinh hiển tột bậc. Nhưng kỳ lạ là năm đó còn có một lời đồn rằng, lăng tẩm này thực chất chỉ là một ngôi mộ trống, chỉ là mộ gió mà thôi…”
Nói đến đây thì bỗng y khựng lại, im bặt. Có lẽ y hối hận vì đã lỡ lời nhắc tới chuyện này, bèn ho khan một tiếng rồi đánh trống lảng cười nói: “Diệp Nhị đệ không biết đã dùng bữa sáng chưa? Nếu chưa, hay là cùng dùng bữa đi?”
Nhược Vũ không nhúc nhích: “Huynh chẳng phải nói mình biết rất nhiều chuyện trong ngoài cung đình sao? Những gì huynh biết, bao gồm cả lời đồn này, hãy kể hết cho tôi nghe đi.”
Chu Hạc lộ vẻ hơi ngạc nhiên, nhìn nàng một cái rồi lộ vẻ khó xử: “Diệp Nhị đệ, không phải ta nuốt lời mà là có những việc liên quan đến bí mật hoàng gia, đâu phải hạng người như ta có thể tùy tiện bàn luận.”
“Huynh muốn bao nhiêu tiền? Tôi sẽ tìm cách lo liệu.”
Nhược Vũ nhìn thẳng vào đôi mắt còn đỏ sọc vì thức đêm vẽ tranh của y, bình thản nói.
Chu Hạc im lặng một lát, bỗng hỏi: “Ngươi học vẽ từ đâu? Tầm sư học đạo ở phương nào?”
Y vốn có thiên bẩm hội họa, từ nhỏ lại chịu sự hun đúc của người cha vốn là họa sư cung đình, cộng thêm nhiều năm khổ luyện nên trình độ không hề tầm thường, nhãn giới lại càng cao, tranh vẽ bình thường khó mà lọt vào mắt y. Nhưng hôm qua khi vô tình thấy bức tranh của thiếu niên nhỏ hơn mình nhiều tuổi này thì nội tâm y chấn động không hề nhỏ.
Nội dung bức tranh đó là môn thần Thần Đồ và Uất Lũy, một đề tài cực kỳ phổ thông, đã bị vẽ đến nhàm chán rồi, chẳng có gì mới mẻ cả. Đừng nói là họa sư, ngay cả họa công hay họa tượng dân gian bậc thấp nhất nhắm mắt cũng có thể vẽ ra được. Nhưng dưới ngòi bút của đối phương, bức tranh hiện lên hoàn toàn khác biệt: bút pháp nhấp nhô trồi sụt, thanh thoát mà cứng cáp lại mượt mà như mây trôi nước chảy. Đôi mắt của hai vị môn thần chỉ qua vài nét phác họa mà như có ánh điện hàm quang, uy nghiêm lộ vẻ giận dữ, sống động như thật, giống như sắp nhảy vọt ra khỏi mặt giấy khiến tà ma nhân gian phải kinh sợ lùi bước.
Phong cách và bút pháp này rõ ràng xuất xứ từ họa phái họ Diệp nhưng lại không hề gò bó, càng không phải là sự bắt chước máy móc mà là cách vung bút tự nhiên, phóng khoáng vô cùng.
Tương truyền Diệp Chung Ly thời trẻ từng là một du hiệp, trên thân không có gì quý mà chỉ có một thanh kiếm và một cây bút. Chính từ kiếm đạo mà ông ngộ ra bút pháp, người và bút hợp nhất, tự lập ra một môn phái riêng, trở thành bậc tông sư một thời được vạn người kính ngưỡng.
Chu Hạc nội tâm vốn rất tự phụ, luận về họa kỹ thì ngay cả Hàn lâm Họa trực đương triều là Phương Sơn Tận hay người đang đắc thế nhất hiện nay là Diêu Húc thực chất y cũng chưa chắc đã coi ra gì.
Họa công của thiếu niên này tất nhiên không thể đặt lên bàn cân so sánh với chân tích của Diệp Chung Ly, nhưng luận về việc lĩnh hội thần thái thấu triệt thì nói thực lòng ngay cả người đã khổ công nghiền ngẫm họa phái họ Diệp nhiều năm như y cũng không bằng.
Lúc này cuối cùng mới có cơ hội để hỏi, Chu Hạc nhìn chằm chằm vào vị thiếu niên trước mặt.
Nhược Vũ nói: “Diệp tổ được thế gian tôn sùng như thần minh nhưng bản thân ông lại luôn tự coi mình là một họa tượng, hơn nữa chưa bao giờ giấu nghề. Tôi nghe nói thuở trước khi ông còn ở Trường An, ngay cả những họa thợ dân gian thấp kém nhất đến thỉnh giáo họa kỹ ông cũng tận tâm chỉ bảo, truyền bá rộng rãi. Trước khi hoàn thành bức Kinh Lạc trường quyến và rời khỏi Trường An, ông đã soạn một bộ Họa kinh, ghi lại toàn bộ khẩu quyết vẽ tranh, phương pháp nghiên màu và các loại tâm đắc để kỹ nghệ được kế thừa, giúp cho tất cả họa sĩ có chí hướng trong thiên hạ đều có sách để học. Họa kinh lưu truyền đến nay đã tạo phúc cho vô số họa sinh, những điều này đều là chuyện thiên hạ đều biết, Chu huynh chắc hẳn còn hiểu rõ hơn tôi.”
“Thầy của tôi chẳng qua chỉ là một họa sư vô danh nơi sơn dã, thời trẻ cũng từng ngao du nơi phồn hoa, sau này nhìn thấu thế tục mới tâm huyết nghiên cứu rồi dốc túi truyền dạy lại cho tôi.”
Nhược Vũ xòe bàn tay phải với những vết chai do cầm bút trên đốt ngón tay ra trước mặt Chu Hạc.
“Tôi vốn không có thiên tư, may mắn gặp được minh sư, hiểu được đạo lý cần cù bù thông minh. Những bức tranh tôi vẽ nếu chẳng may lọt được vào mắt xanh của Chu huynh thì ấy là vinh hạnh của tôi.”
Lời này nói ra vô cùng kín kẽ, Chu Hạc nhìn nàng hồi lâu rồi bảo: “Diệp Nhị, sau này nếu ngươi có công thành danh toại thì chớ quên nâng đỡ ta một hai. Chỉ cần ngươi đồng ý, ta sẽ đem tất cả những gì mình biết nói ra hết. Ngươi cũng biết đấy, chuyện liên quan đến cung đình có những điều không thể nói bừa, e là sẽ rơi đầu như chơi—”
“Nếu tôi có khả năng thì nhất định sẽ không quên.”
“Được! Ta tin ngươi!”
Chu Hạc khẽ vỗ tay một cái, quay đầu nhìn bốn bức tường: “Ở đây nói chuyện không tiện, ngươi đi theo ta!”
Hai người rời quán trọ. Chu Hạc đi về phía Đông ra khỏi thành, đi thẳng qua cửa Xuân Minh, đến một vùng hoang dã ngoại thành, xung quanh không thấy một bóng người, lúc này y mới dừng lại hỏi: “Ngươi muốn biết điều gì?”
“Tất cả những gì huynh biết.”
Chu Hạc nhìn nàng bằng ánh mắt khó hiểu: “Chuyện này mà nói ra thì dài dòng lắm…”
“Dài bao nhiêu cũng không sao!”
Y trầm ngâm một lát: “Vậy ta sẽ bắt đầu kể từ lúc Thánh nhân đương triều còn là Định Vương vậy.”
“Trên triều hiện nay hai vị Tể tướng Liễu Sách Nghiệp và Vương Chương là đắc thế nhất. Vương Chương xuất thân từ tộc của Thái hoàng thái hậu, Liễu Sách Nghiệp cũng là danh gia thế tộc, lại còn là cậu của Thái tử. Nhưng Hoàng hậu họ Liễu hiện nay không phải mẫu thân ruột của Thái tử, mà là dì.”
Khi Thánh nhân còn là Định Vương, ban đầu ngài cưới trưởng nữ nhà họ Liễu – một thế gia vùng Quan Đông – làm phi. Liễu phi sinh ra Thái tử Lý Mậu hiện nay, sau đó lâm bệnh qua đời. Đến lúc bàn chuyện kế phi, nhà họ Liễu vốn hy vọng một người em họ của Liễu phi sẽ tiếp tục làm Định Vương phi, nhưng Định Vương lại có ý trung nhân khác, người đó chính là Ân Vương phi sau này.
Cha của họ Ân từng làm Tế tửu Quốc tử giám, Ân nữ dung mạo cực kỳ xinh đẹp, chẳng biết duyên cớ gì lại lọt vào mắt xanh của Định Vương. Định Vương đem lòng ái mộ nên đã cầu xin trước mặt Lão Thánh nhân.
Thời điểm đó Lão Thánh nhân đã ngày một già yếu, luôn có lòng đề phòng các con trai. Thỉnh cầu này của Định Vương đúng lúc hợp ý ngài nên ngài đã đứng ra tác thành hôn sự.
“Nghe nói khi Ân Vương phi gả cho Định Vương thì tuổi chưa đầy mười bảy mười tám, Định Vương cũng đang độ anh hùng tráng niên. Sau khi có được Ân Vương phi, ngài cực kỳ sủng ái, đi cùng hàng, ra cùng xe, trong mắt không còn người nào khác, có thể gọi là đôi lứa thần tiên. Sau này sinh được một ái nữ, phong hiệu là Trâm Tinh quận chúa. Trong phường Vụ Bản gần đây có một ngôi đạo quán tên là Trâm Tinh Quán, nơi đó vốn là phủ Định Vương, cái tên Trâm Tinh cũng là lấy từ phong hiệu của Quận chúa. Không chỉ vậy, ta nghe nói sở dĩ Tiểu quận chúa lấy hiệu Trâm Tinh là do năm đó cũng có một điển tích…”
“Chuyện này không cần nói nữa,” Nhược Vũ ngắt lời Chu Hạc, “Chuyện lăng mộ trống là thế nào?”
“Chuyện đó phải bắt đầu nói từ Diệp Chung Ly. Diệp Chung Ly nổi danh có môn đồ khắp thiên hạ nhưng người thực sự được ông thu nhận làm đệ tử và mang theo bên mình tận tâm dạy dỗ chỉ có một người, tên là Đinh Bạch Nhai.”
Đây là lần đầu tiên Nhược Vũ nghe nói ông nội có truyền nhân nên không khỏi giật mình.
“Đinh Bạch Nhai thiên tư hơn người, văn chương thi họa đều bất phàm, nhưng vì xuất thân bần hàn, không có gia thế chống lưng, khi đến Trường An thi cử nhiều lần không đỗ, cuối cùng nản lòng mà bỏ văn theo họa. Hắn vốn thông minh, lại được Diệp Chung Ly tận tâm dạy bảo, chỉ vài năm sau đã danh vang Trường An.”
“Năm đó Diệp Chung Ly vẽ xong bức Kinh Lạc trường quyển rồi rời khỏi Trường An, nhưng Đinh Bạch Nhai không đi, sau đó hắn trở thành họa sư cung đình được chú ý nhất, tham gia đủ loại yến tiệc cung đình, từng vẽ chân dung cho các nữ quyến hoàng thất, từ Thái hậu trở xuống đến các Vương phi, Công chúa.”
“Đinh Bạch Nhai phong thái thanh tú, phóng khoáng bất kham, mang phong độ Ngụy Tấn. Sau khi thành danh, hắn có danh hiệu là đệ nhất mỹ nam tử Trường An. Vì thường ngày hắn thích mặc đồ trắng nên người ta đều gọi là ‘Bạch y Đinh lang’, nữ tử ái mộ hắn nhiều không đếm xuể. Lời đồn thậm chí còn nói có không ít tiểu thư cao môn để cầu được hắn vẽ tranh cho mà vắt óc tìm kế, không tiếc vung nghìn vàng hối lộ những thái giám đắc thế ở Ty Cung Đài để họ sắp xếp cơ hội. Thế nhưng hắn lại chỉ nhất mực chung tình với Định Vương phi, mượn thân phận họa sư cung đình để cố ý tiếp cận, hai người dần dà có tư tình với nhau, chỉ là vướng bận thân phận nên đôi bên đều nén nhịn. Sau này gặp lúc biến loạn thì vừa khéo ban cho họ một cơ hội.”
“Nghe nói đêm trước khi kinh thành thất thủ, Thái hoàng thái hậu từng triệu Ân Vương phi dẫn theo Tiểu công chúa vào cung để cùng chuẩn bị chạy loạn về phía Tây, nhưng bà ta lại mượn cơ hội đó cùng Đinh Bạch Nhai bỏ trốn, từ đó bặt vô âm tín, không còn tin tức của hai người họ nữa. Sau khi Định Vương đăng cơ, nếu hai người này còn sống dĩ nhiên càng không lộ diện, có lẽ bây giờ đang ở một nơi nào đó không ai biết trên thế gian này làm một đôi uyên ương tiêu dao tự tại rồi.”
Nhược Vũ nghe mà máu toàn thân như chảy ngược, tim đập loạn xạ từng hồi.
Nàng cũng nhớ ra rồi.
Năm đó nàng theo A nương vào cung, đúng là có gặp một vị họa sư trẻ tuổi dung mạo tuấn lãng như ngọc. Vị họa sư đó cũng từng vẽ chân dung cho nàng và mẹ. Nhớ mang máng là A nương rất thích, từng treo bức họa hai mẹ con đó ở tẩm đường. Sau này không biết vì cớ gì mà A gia không vui nên bức họa liền bị gỡ xuống.
“Không thể nào! Tôi bảo huynh kể cho tôi nghe chuyện cũ của triều đình, chứ không phải kể những lời đồn thổi không biết nghe từ đâu ra này!” Nàng không kìm được mà cất tiếng phản bác.
Chu Hạc cười khẩy một tiếng.
“Nếu xét theo lẽ thường thì quả thực là không thể nào. Nhưng khi đó trời nghiêng đất lệch, Trường An loạn thành một đoàn, ngay cả Hoàng đế cũng bỏ mặc con dân mà chạy, tính mạng ai nấy đều ngàn cân treo sợi tóc thì còn kiêng dè gì được nữa? Trong tình cảnh đó thì thân phận đáng giá bao nhiêu?”
“Không biết ngươi đã từng thấy nơi gọi là Xã An Miếu ở phường Sùng Nhân chưa. Trước khi biến loạn, đó vốn là nơi hoàng gia tổ chức hôn lễ cho các công chúa, quận chúa, bình dân không được tự ý vào, cao quý biết bao nhiêu. Sau khi kinh thành thất thủ, mấy chục vị công chúa và phò mã hoàng thất do nhận tin chậm không kịp chạy trốn đã lủi vào đó lánh nạn. Loạn binh kéo đến, cưỡng hiếp công chúa, tàn sát phò mã, máu của bọn họ chảy lênh láng ra tận bậu cửa, nhuộm đỏ cả mặt đất.”
“Trời sập rồi, cho dù huyết thống của bọn họ có cao quý đến đâu thì đã sao, chẳng phải cũng như heo chó để người ta tùy ý xâu xé đó ư? Chẳng thà nhân cơ hội đó mà đi cùng người trong lòng, quãng đời còn lại còn có được chút tiêu dao tự tại.”
Sắc mặt Nhược Vũ cố giữ vẻ bình thản nhưng bàn tay dưới ống tay áo đã siết chặt thành nắm đấm, không kìm được mà run rẩy kịch liệt.
Chu Hạc nói tiếp: “Dĩ nhiên rồi, Ân Vương phi có bỏ trốn hay không, còn sống hay đã chết cũng không phải do ta quyết định. Nhưng trong những năm đầu sau khi dẹp loạn, trong triều ngoài phố ai nấy đều biết lời đồn này. Ngươi có biết vì sao hiện giờ trong thành Trường An hiếm thấy những bức bích họa do Diệp Chung Ly vẽ thời trẻ không? Những chân tích trên giấy hay lụa của ông ấy giờ đây càng là ngàn vàng khó cầu. Tuy nói quân phản loạn quả thực có hủy hoại một phần, bao gồm cả bức trường quyển ông ấy từng vẽ trong điện Vĩnh An, nhưng cũng không đến mức hủy sạch toàn bộ chứ. Những gì còn lại đã biến mất đều là do ý của đương kim Thánh thượng đấy.”
“Sau khi ngài đăng cơ, các chùa chiền đạo quán ở Trường An đồng loạt có động thái, hoặc dùng tranh mới đè lên hình cũ, hoặc dứt khoát đục bỏ hoàn toàn. Nếu không nhận được mật lệnh từ trên xuống thì ai mà nỡ hủy đi những chân tích đó chứ? Hiện giờ chỉ có bức bích họa ở vách phía Nam điện Thiên Vương thuộc chùa Thanh Long là còn tồn tại. Nghe nói là do các tăng nhân thực sự không nỡ, đã liều mạng xây hẳn một bức tường mới chắn trước vách phía Nam đó để che đi, nhờ vậy mới may mắn còn giữ được đến nay. Đó là còn chưa nói đến việc vào thời điểm đó, không biết bao nhiêu họa sư cung đình từng có giao du với Đinh Bạch Nhai đã bị xua đuổi hoặc bị giết!”
Y không nói toạc ra nhưng ý tứ đã quá rõ ràng. Đó là khi Định Vương mới đăng cơ, vì căm ghét Đinh Bạch Nhai mà giận lây sang Diệp Chung Ly, hạ lệnh hủy bỏ tranh vẽ của Diệp Chung Ly, đồng thời bức hại những họa sư từng có quan hệ với ông.
“Những gì huynh nói chưa chắc đã chính xác.”
Nhược Vũ trấn tĩnh lại, không nhịn được mà lên tiếng biện minh lần nữa.
“Nếu đúng như lời huynh nói thì tại sao sau này lại không cấm nữa? Tôi nghe nói trong điện đường mới xây mừng thọ Thánh nhân thậm chí còn muốn tái hiện lại bức trường quyển mà năm xưa Diệp Chung Ly từng vẽ!”
Chu Hạc gật đầu: “Những gì ngươi nói dĩ nhiên không sai. Nhưng nếu người đặt mình vào vị trí của Thánh nhân mà xem, ngươi cũng sẽ làm như vậy thôi. Ban đầu là hành động xả giận trong lúc thịnh nộ. Người bình thường e rằng đều không thể chịu đựng được nỗi nhục nhã như vậy, huống hồ là bậc thiên tử tôn quý? Nhưng sau đó ngài sẽ nghĩ thông suốt thôi. Càng làm như vậy chẳng phải càng làm sáng tỏ lời đồn kia sao? Như vậy thì thể diện của Thánh nhân để vào đâu, tình cảnh khó xử biết nhường nào? Huống hồ danh tiếng của Diệp Chung Ly quá lớn, trong dân gian đã sớm được tôn làm thần. Không phải ta mạo phạm thiên uy nhưng dù Thánh nhân là thiên tử e rằng cũng khó lòng chèn ép lâu dài, chẳng thà thuận nước đẩy thuyền che đậy chuyện xấu năm xưa đi, coi như chưa từng có chuyện gì xảy ra, rồi cáo thị thiên hạ rằng Chiêu Đức Hoàng hậu năm đó bất hạnh mất mạng dưới tay quân phản loạn, đó mới là đạo làm vua.”
Nhược Vũ lập tức im lặng.
“Như vậy ngươi đã hiểu lý do vì sao nơi đó lại là ngôi mộ trống rồi chứ? Bây giờ đã bao nhiêu năm trôi qua rồi, nhắc đến Chiêu Đức Hoàng hậu thì người dân ai nấy đều nói Thánh nhân vì Chiêu Đức Hoàng hậu mà đại tu hoàng lăng để gửi gắm nỗi nhớ thương, dù âm dương cách biệt cũng khó dứt tình xưa. Đôi phu thê nhà thiên gia tình thâm đến mức này đủ để làm tấm gương cho con dân thiên hạ, chẳng lẽ như vậy không tốt sao?”
Chu Hạc kể xong chuyện cũ này, thấy đối phương hồi lâu không nói gì thêm bèn cười hỏi: “Sao ngươi không nói gì nữa? Còn chuyện gì muốn nghe ngóng nữa không?”
“Trong cung có một nội thị tên là Triệu Trung Phương không?”
Nhược Vũ chậm rãi ngước mắt hỏi.
“Triệu Trung Phương…”
Chu Hạc lặp lại cái tên này, nhíu mày suy nghĩ một lát rồi gật đầu.
“Hình như có ấn tượng. Sau khi Thánh nhân đăng cơ, chính người này đã làm Nội thị thừa. Nghe nói ông ta vốn là người cũ của phủ Định Vương năm xưa, rất được Thánh nhân trọng dụng, lúc đó Viên Trị còn chưa biết đang ở xó xỉnh nào! Nhưng sau đó không biết vì lý do gì, vài năm sau người này đột nhiên biến mất, cũng không biết đi đâu, còn sống hay đã chết. Hiện giờ Ty Cung Đài hoàn toàn là của Viên Trị rồi. Bao nhiêu năm trôi qua, trong cung người còn biết đến cái tên này e là cũng không còn nhiều.”
“Đúng rồi, ta nhớ người này có tật ở một chân, đi đứng khập khiễng bên cao bên thấp. Nếu ta nhớ không nhầm thì hẳn chính là người ngươi đang hỏi.”
Nơi đồng hoang cỏ cây xanh tốt, hoa dại nở rộ khắp nơi, ánh nắng rực rỡ, gió ấm từng đợt thổi qua người, thế nhưng theo lời kể của Chu Hạc – người từng trải qua chuyện cũ, Nhược Vũ lại cảm thấy toàn thân như bị ngâm trong giếng băng giữa mùa đông, từ từ lạnh ngắt đi, đến cuối cùng lạnh đến mức chân răng nàng hình như cũng đang tỏa ra hơi lạnh từng cơn.
“Diệp lão đệ, ngươi làm sao thế? Sắc mặt trông không được tốt lắm, có phải trong người không khỏe không?”
Bên tai vang lên một tiếng gọi quan tâm. Nhược Vũ sực tỉnh thì thấy Chu Hạc đang nhìn mình với ánh mắt lo lắng. Nàng lắc đầu: “Hôm nay đa tạ Chu huynh, tôi đã được mở mang tầm mắt rồi. Tôi không sao, đến lúc phải về thôi.”
Nàng khẽ gật đầu với Chu Hạc rồi đi về hướng trong thành. Đi được vài bước, nàng đột nhiên dừng lại, quay đầu, gằn từng chữ: “Những gì huynh nói đều chỉ là lời đồn và suy đoán.”
Chu Hạc ngẩn ra, rồi cười nhạt: “Thế thì đã sao? Không có lửa sao lại có khói. Huống hồ những lời đồn đó vào thời điểm ấy xôn xao khắp nơi, cũng không phải do Chu Hạc ta bịa đặt ra.”
Nhược Vũ không lên tiếng nữa mà quay đầu tiếp tục bước đi.
“Diệp lão đệ, vậy chuyện chúng ta vừa thỏa thuận lúc nãy…”
Chu Hạc nhìn cái bóng lưng dần đi xa phía trước một lúc, bỗng hét lớn.
“Tôi nhớ kĩ rồi.”
Nhược Vũ không hề ngoái đầu lại mà đi thẳng.
Trường An quá rộng, ngày hôm ấy khi Nhược Vũ trở về đến quán trọ ở phường Vĩnh Bình thì tiếng trống chiều đã một lần nữa vang vọng trên bầu trời các phố lớn ngõ nhỏ, từng tiếng từng tiếng giục giã người ta về nhà.
Nàng đã đi bộ trở về. Không phải không bắt được xe mà là sau khi đến Tây Thị có rất nhiều xe đi nhờ, thế nhưng nàng chỉ đi bộ, đi đến mức hai chân gần như tê dại, cả người kiệt sức, dường như chỉ có như vậy nàng mới không còn cảm thấy khối đá khổng lồ đang đè nặng trong lồng ngực khiến nàng cảm thấy đau đớn như nghẹt thở ấy nữa.
Câu nói mà nàng gằn từng chữ với Chu Hạc trước khi rời đi chẳng phải cũng là để tự chứng minh cho chính mình nghe đó sao?
Nàng tuyệt đối không tin, A nương của nàng lại có thể bỏ rơi nàng và A gia vào đêm đó để bỏ trốn cùng một họa sư trẻ tuổi.
Vào đêm hôm ấy, nàng đã từng khao khát biết bao vị phụ vương vốn dĩ toàn năng trong lòng nàng có thể từ trên trời rơi xuống, cứu nàng thoát khỏi nỗi kinh hoàng mà nàng chưa từng trải qua bao giờ.
Triệu Trung Phương đuổi nàng đi, nàng vừa khóc vừa ngoái đầu lại, nhìn thấy những kẻ kia đang đuổi tới. Dưới màn đêm đen kịt, khuôn mặt của chúng nhảy nhót, vặn vẹo theo ánh đuốc trong lúc ngựa phi nước đại. Một trong những khuôn mặt đó, nàng đã từng gặp qua.
Có một điểm Chu Hạc nói quả thực không sai. Nàng có một người anh trai cùng cha khác mẹ lớn hơn nàng gần mười tuổi, tên là Lý Mậu. Bên ngoại của Lý Mậu là nhà họ Liễu thường có người đến vương phủ thăm hắn, người đến nhiều nhất chính là dì của Lý Mậu, cũng chính là Tiểu Liễu hậu bây giờ.
Chỉ vài ngày trước đêm đó, người phụ nữ kia lại đến cửa đón Lý Mậu đi với lý do mẫu thân bà ta cực kỳ thương nhớ hắn, muốn được gặp mặt cháu ngoại.
A nương tuy là kế mẫu nhưng đối xử với Lý Mậu hết lòng hết dạ, những quan tâm chăm sóc thường ngày dành cho hắn tuyệt đối không thua kém gì đối với nàng. Thế nhưng Nhược Vũ thuở nhỏ vẫn có thể cảm nhận được, Lý Mậu bề ngoài cung kính nhưng khi không có mặt phụ vương thì ánh mắt hắn nhìn mẫu phi và nàng luôn mang theo vài phần chán ghét.
Khuôn mặt vặn vẹo trong ánh lửa kia chính là tên hộ vệ trưởng của nhà họ Liễu, kẻ từng theo người phụ nữ họ Liễu đến đón Lý Mậu năm xưa.
Đêm ác mộng đó đã trôi qua nhiều năm.
Nàng không chết, và đã trở lại kinh thành nơi nàng sinh ra.
A gia năm xưa giờ là Thánh nhân đương triều. Vương Thái hậu giờ là Thái hoàng thái hậu. Người phụ nữ họ Liễu kia giờ là Hoàng hậu. Người anh cùng cha khác mẹ của nàng là Thái tử.
Tất cả mọi người đều sống rất tốt, thậm chí còn tốt hơn cả trước kia.
Chỉ có A nương nàng, người phụ nữ xinh đẹp và dịu dàng nhất thế gian, dường như đã chết. Người từng là lang quân yêu dấu đã xây cho bà một lăng tẩm đồ sộ cho cả thế gian bái lạy.
Nhưng dường như bà vẫn đang sống theo cách nhục nhã nhất, sống trong những lời đồn đại của miệng lưỡi người đời.
Đến lúc này cuối cùng nàng cũng hiểu được người mà bao năm qua ông nội hằng tìm kiếm rốt cuộc là ai.
Ông chắc chắn biết lời đồn này nên mới chấp nhất đến thế. Suốt bao nhiêu năm qua ông luôn muốn tìm cho được vị thân truyền đệ tử mà ông coi trọng nhất đang mang trên mình vết nhơ này, đó chính là tâm nguyện chưa dứt của ông. Sau khi bầu bạn cùng nàng được ba năm, ông vẫn giao phó nàng cho Bùi Ký, mặc kệ thân thể già yếu mà một mình rời đi, đến một nơi nào đó nàng không rõ.
Cảm giác thôi thúc muốn lập tức chạy đến trước mặt A gia để nói rằng mình đã trở về, vốn từng trào dâng khi nàng vừa khôi phục trí nhớ, giờ đây đã tan biến không còn dấu vết.
Triệu Trung Phương đêm đó không chết. Ông ta cũng giống như nàng, may mắn sống sót và sau đó tiếp tục hầu hạ A gia thêm vài năm nữa.
Vào thời điểm đó ông ta không thể nào không nhìn thấy khuôn mặt kia, càng không thể không biết đối phương là ai.
Khuôn mặt đó xuất hiện ở nơi đó có ý nghĩa gì, đến nàng còn có thể hiểu ra thì Triệu Trung Phương không lý nào không nghĩ tới.
Trong tâm trí Nhược Vũ dường như lại hiện ra một quầng lửa rực cháy giữa không trung, chính là cây thạch lựu nở đầy hoa ngoài cổng phường Vụ Bản.
Hồi đó Triệu Trung Phương vừa bị phạt đánh roi, nằm bò trên sập không cử động được. Nàng lén lút chạy đến thăm ông, mắt đỏ hoe, lòng hối hận không thôi.
“Chao ôi, đều tại ta, hại ông thành ra thế này. Ông có giận ta không?”
Ông hốt hoảng xua tay.
“Tiểu quận chúa đừng khóc! Nô tài chẳng đau chút nào đâu! Sao nô tài có thể giận Tiểu quận chúa được? Tiểu quận chúa không sao là may mắn lắm rồi. Tiểu quận chúa mau đi đi, tuyệt đối đừng để người ta thấy người đến đây!”
Thật chẳng khéo chút nào, ngay đêm hái hoa đó, vì nghịch ngợm mà nàng sảy chân ngã xuống ao nước trước đình viện tẩm đường, uống vài ngụm nước bẩn và bị một phen kinh hãi. A gia của nàng hạ lệnh cho người lấp ao ngay trong đêm, chuyện vốn dĩ đã qua nhưng không biết kẻ nào lắm miệng đã bẩm báo việc Triệu Trung Phương đưa Tiểu quận chúa đi hái hoa lựu ra trước mặt ngài. Ngài nổi trận lôi đình, nếu không có A nương hết sức ngăn cản rồi nàng sợ hãi ôm lấy chân A gia khóc rống lên, cộng thêm việc Triệu Trung Phương là người hầu cận lớn lên cùng ngài thì e rằng ông đã bị đánh chết ngay tại chỗ rồi.
“Ông đừng sợ, ta đã xin A nương rồi, là bà cho phép ta đến. Ta mang kẹo mật cho ông này. Ông ăn đi.”
Nàng lôi từ trong chiếc túi nhỏ thêu hoa văn dát vàng mang bên mình ra một miếng kẹo mật, đưa tới bên miệng Triệu Trung Phương.
Viên kẹo mật trắng nõn như ngọc, được làm từ nước mía thượng hạng và sữa bò nấu thành, còn được tạo hình thành một chú thỏ nhỏ rất đáng yêu.
Lúc đầu Triệu Trung Phương nhất quyết không ăn, sau không chịu nổi sự năn nỉ của nàng mới cắn một miếng nhỏ.
“Ngon không ạ?” Nàng nghiêng đầu hỏi.
“Ngon lắm ạ!”
“Ta còn có cả mèo nhỏ, cá nhỏ, chó nhỏ nữa, cho ông tất cả đấy! Ông ăn rồi mau khỏe lại để còn chơi với ta!”
Nàng “ào” một cái, đổ hết kẹo mật trong túi ra.
“Vương phi hiền từ, Tiểu quận chúa đối với nô tài cũng thật tốt quá!”
Giọng Triệu Trung Phương nghẹn ngào, cảm kích đến mức sắp phát khóc.
“Ông là bạn Triệu thân nhất của ta mà! Mãi mãi là như thế!”
Cô bé con thốt lên bằng giọng dõng dạc.
Giờ đây Triệu Trung Phương đang ở đâu? Còn sống hay đã chết? Đêm đó A nương không về, Quách Túng một mình trở lại, rốt cuộc đã nói gì với ông ấy? Những kẻ truy sát nàng có thực sự là do một người nào đó trong nhà họ Liễu phái đến như nàng đã thấy không, và mục đích của họ là gì?
Và còn nữa, ông ấy rốt cuộc có nói cho Hoàng đế biết vào đêm năm xưa đó đã từng xảy ra những chuyện gì không?
Nhược Vũ trở về quán trọ, cả người kiệt sức.
Đúng vào lúc bận rộn hỗn loạn nhất trong ngày, khách trọ ra ra vào vào, hai vị khách say xỉn vì đánh bạc mà lao vào đấm đá nhau. Cao đại nương vừa mắng chửi vừa gọi người tách đám say rượu ra, xung quanh thì mọi người lại đang hò hét cổ vũ. Cao đại nương nổi giận, xách một thùng nước ra dội thẳng vào đầu hai kẻ kia, lúc này mới tách được họ ra. Bỗng nhiên thấy nàng đi vào, bà sáng mắt lên.
“Tiểu lang quân, cậu về rồi đấy à! Cả đêm qua không về, tôi cứ tưởng cậu không ở nhà tôi nữa. Vào phòng cậu xem thì đồ đạc vẫn còn nguyên, tôi cứ lo cậu gặp chuyện không may, lo lắng suốt cả đêm đấy…”
Nhược Vũ dường như không nghe thấy gì, bỏ lại sau lưng lời quan tâm của Cao đại nương và tất cả những tiếng ồn ào nhốn nháo, nàng lẳng lặng vào phòng, ngã đầu xuống giường rồi ngủ thiếp đi ngay lập tức.
Khoảnh khắc trước khi nhắm mắt, trong lòng nàng chỉ còn lại một suy nghĩ duy nhất.
Nàng phải tìm người bạn tốt họ Triệu kia của nàng để làm rõ một điều.
Có phải ông ta đã phản bội nữ chủ nhân cũ và vị Tiểu quận chúa của mình nên đã không kể lại những gì tai nghe mắt thấy đêm hôm ấy với Thánh nhân đương triều – cũng chính là A gia của nàng? Để rồi A gia của nàng không hay không biết mọi chuyện mà cứ thế bị sương mù dối trá bủa vây.
....
Tại cửa lớn sơn đen của Tiến Tấu Viện gần Hoàng thành, một nam tử trẻ tuổi ăn mặc giản dị nhưng dáng dấp hiên ngang, cao ráo vừa xuất hiện.
Trên những con phố dài quanh khu vực này có không ít những nơi tương tự, vốn là văn phòng liên lạc và tấu trình việc công của các phiên vương, phương bá hoặc Tiết độ sứ ngoài kinh thành đặt tại Trường An. Do đó khu vực này không náo nhiệt như những phố chợ khác, lại đang lúc giữa trưa nên xe ngựa trên đường cũng thưa thớt. Hắn báo danh tính với người canh cổng Tiến Tấu Viện rồi lặng lẽ đứng đợi bên ngoài.
Chẳng mấy chốc bên trong đại môn vang lên một trận xôn xao, phá tan sự tĩnh mịch của buổi trưa. Một thanh niên dáng vẻ quý tộc lao từ nội đường ra, một chiếc ủng còn chưa kịp xỏ hẳn vào chân, bị tuột lại giữa sân nhưng gã cũng chẳng thèm quan tâm, cứ thế đi tất trắng chạy thẳng ra cửa lớn.
Nam tử đang đợi ngoài cửa quay người lại phía gã, nở một nụ cười nhẹ.
“Nhị lang!”
Trong tiếng reo hò vui mừng khôn xiết, Thừa Bình đạp một chân qua bậu cửa, “bộp” một tiếng, nắm đấm đã nện ngay vào vai người kia.
“Bùi Tiêu Nguyên nhà ngươi hay lắm! Sao đến hôm nay mới tới! Làm ta đợi mỏi cả mắt! Hôm qua ta tìm ngươi suốt cả ngày, cứ ngỡ ngươi gặp chuyện trên đường rồi chứ! Ngươi tới khi nào? Vào thành bằng cửa nào?”
Bùi Tiêu Nguyên không né tránh, nhận lấy cú đấm nặng ký của người bạn thân rồi cười tạ lỗi: “Thật xin lỗi đã khiến ngươi lo lắng. Ta đến từ đêm qua, vào bằng cửa Thông Hóa.”
Thừa Bình nghe vậy thì nổi giận: “Tên súc sinh đó! Ta thấy tên Trạm thừa ở trạm Trường Lạc chán sống rồi! Sáng nay ta vừa mới đến đó tìm ngươi, hắn lại dám bảo với ta là không biết! Xem lần sau ta tới có quất roi hắn không!”
Bùi Tiêu Nguyên nói: “Ta không dừng chân ở trạm Trường Lạc, hắn làm sao mà biết được?”
Thừa Bình khựng lại một chút rồi cười ha hả: “Bỏ đi, bỏ đi! Ngươi tới là tốt rồi!” Gã đưa tay kéo Bùi Tiêu Nguyên định đi vào trong, bấy giờ mới nhận ra chân mình thiếu một chiếc ủng. Đã có tùy tùng nhặt ủng chạy tới hầu hạ, gã nhảy lò cò một chân để xỏ vào rồi vừa nói vừa cười dẫn Bùi Tiêu Nguyên vào trong. Sau khi ngồi xuống gã hỏi ngay về kết quả chuyến đi tìm người lần này. Khi nghe nói là không tìm thấy thì gã không khỏi thất vọng.
“Ta cũng vậy. Trên đường tới đây ta luôn nghe ngóng nhưng chẳng có lấy một mẩu tin. Nếu nàng ấy cứ thế mất tích như vậy thì sau này e là ta không dám nhìn mặt Bùi công nữa.”
“Ngươi lo nhiều rồi. Ngươi vào kinh thì tất nhiên là nàng ấy không cùng đường với ngươi. Chắc chắn nàng ấy không gặp chuyện gì đâu, từ nhỏ nàng ấy đã theo ông nội bôn ba bên ngoài, biết đâu giờ này đã về rồi, phía Hà thúc chắc hẳn sẽ sớm có tin mới thôi.”
Bùi Tiêu Nguyên buông lời an ủi Thừa Bình như vậy nhưng trong thâm tâm hắn cũng không chắc chắn lắm.
Thừa Bình thở dài, giọng có vài phần oán trách: “Cô gái này rốt cuộc đã đi đâu mà khiến người ta tìm khổ sở đến thế!”
Bùi Tiêu Nguyên nhất thời im lặng.
Thừa Bình liếc nhìn hắn: “Thôi, không nói chuyện này nữa, ngươi đã tận lực rồi.” Nói xong gã chuyển chủ đề, lớn tiếng gọi người lập tức đến Xuân Phong Lâu – tửu lầu tốt nhất Trường An – đặt tiệc rượu để tẩy trần cho Bùi Tiêu Nguyên. Không đợi bạn mở lời, gã cười bảo: “Ngươi nói gì cũng vô ích thôi, bữa rượu này không tránh được đâu. Đám con em trong các vệ quân tại kinh thành vốn là chỗ hảo hữu với ta đã ngưỡng mộ danh tiếng của ngươi từ lâu, biết chuyến này ngươi vào kinh nên cứ gặng hỏi ta mãi. Nếu ngươi không đi, ta thì sao cũng được nhưng cứ thử hỏi xem bọn họ có chịu để yên không!”
Bùi Tiêu Nguyên khẽ suy nghĩ rồi mỉm cười: “Vậy thì đa tạ nhé. Lát nữa ta tự qua đó, giờ ta còn phải qua Thôi phủ một chuyến.”
Họ Thôi được mệnh danh là danh gia vọng tộc đứng đầu thiên hạ, cậu của hắn thuộc một nhánh trong đó. Thừa Bình vốn đã biết chuyện này nên không ép ở lại nữa, gật đầu: “Cũng được, vậy ta không giữ ngươi nữa. Trước khi ngươi tới cậu của ngươi đã mấy lần phái người đến chỗ ta nhắn tin, nói nếu thấy ngươi thì phải lập tức báo cho ông ấy một tiếng.”
Nói xong gã lại hỏi về chỗ ở sắp tới, mời Bùi Tiêu Nguyên ở lại chỗ mình.
Bùi Tiêu Nguyên nói hắn đã dừng chân ở quán trọ của Kim Ngô Vệ, vài ngày nữa sẽ chuyển đến nhà công vụ, ăn ở cũng thuận tiện lắm.
Thừa Bình biết bạn không muốn ở lại chỗ mình nên không cưỡng cầu, trò chuyện thêm một lát rồi đứng dậy tiễn hắn ra ngoài, không quên dặn đi dặn lại về bữa tiệc tẩy trần buổi tối, sau đó hai người mới chia tay.