Đăng nhập

Chương 2

Ⓦ 2948 Chữ

Ánh trăng xuân mọc lên sau rừng hoa ven sông phát ra làn khói tím mờ ảo, bóng trăng tĩnh lặng như chiếc vòng ngọc chìm trong màn nước, sương đêm lờ lững trôi. Nước kênh đào ngấm son phấn mà các cung nữ rửa trôi vào buổi hoàng hôn, nửa xanh nửa đục, lặng lẽ chảy giữa những bóng đen của dãy cung điện hùng vĩ, hòa vào suối tối trong rừng hoa, làm thơm ngát cả khu rừng.

Vầng trăng trên hồ Dịch Trì hóa thành khuôn mặt của một mỹ nhân mặc cung trang. Sắc đẹp tuyệt trần của nàng còn mỹ miều hơn cả ánh trăng.

Đi kèm với làn gió tối xuyên rừng khe khẽ, từ một nơi sâu thẳm, tối tăm không biết ở đâu vọng ra một luồng âm thanh. Ban đầu âm thanh này hư ảo, không nghe rõ là gì, như tiên nhạc lượn lờ giữa lầu ngọc, biển lâu, lại như tiếng thở dài dặn dò thoát ra từ bờ môi người. Nó theo gió tối lượn lờ giữa trùng trùng cung điện, bay qua tường cung, xuyên qua kênh đào, bay về phía hồ Dịch Trì, và cuối cùng đã lọt vào tai Nhược Vũ.

Đừng trở về.

Đừng trở về.

Đừng trở về.

…

Nhược Vũ tỉnh dậy trong những lời thì thầm thiết tha đó. Nàng tiếp tục nằm yên trong bóng tối cho đến khi hoàn toàn thoát khỏi giấc mơ về rừng hoa Ngự Uyển và dư âm của mỹ nhân trong mộng không còn vương vấn bên tai nữa, lúc này mới từ từ mở mắt, quay đầu, nhìn ra ánh trăng ngoài cửa sổ mà thẫn thờ.

Nàng đã đến đây được hai, ba ngày rồi. Nửa đêm tỉnh giấc, trong cơn mơ màng, nàng cứ ngỡ mình vẫn đang ở bên cạnh ông nội.

Thái Thú thực sự rất tốt với nàng, chăm sóc nàng như ngày nàng vẫn còn bé, hỏi han ân cần như thể sợ nàng gặp phải bất kỳ ấm ức nào. Cô tỳ nữ biết chải tóc tên là Chúc Nhi, tuy hơi sợ Hạ thị nhưng tính tình hoạt bát, khi không có Hạ thị ở gần thì rất thích nói chuyện. Cô bé thân thiết với Nhược Vũ ngay ngày thứ hai và nói rằng mình cũng mới đến không lâu. Theo lời cô bé, Bùi Ký hàng ngày giản dị, phủ Thái Thú lớn như vậy, tổng cộng cả trong lẫn ngoài chỉ chưa đến mười người hầu mà đều chỉ là những người cần thiết. Từ khi nàng đến ông mới mua Chúc Nhi về để hầu hạ nàng.

Ngoài ra dường như trong phủ này từ trước đến nay chỉ có hai chủ nhân là Thái Thú và Bùi lang quân. Lần này cũng vì Nhược Vũ mà ông đã đặc biệt mua sắm son phấn, trang sức và các vật dụng khác mà nữ tử thường sử dụng từ một thương nhân Hồ đi ngang qua đây.

Bên cạnh những thứ này, Nhược Vũ còn phát hiện ra trong nơi ở của mình còn có một khu vực được dành riêng để vẽ tranh. Không cần nói đến lụa, giấy và các loại cọ vẽ đủ kích cỡ, các loại màu vẽ như chu sa, yên chi, thanh đại, thư hoàng, thậm chí cả hoạt thạch, tùng yên ít dùng đến, cũng đều có đủ. Rõ ràng là đã chuẩn bị rất chu đáo.

Mọi thứ đều khiến Nhược Vũ cảm thấy hơi bất ngờ.

Mấy ngày sau khi đến, nàng đã nhiều lần muốn tìm cơ hội để nói ra suy nghĩ của mình nhưng luôn không mở lời được.

Nàng không phải là người không biết phải trái.

Ba năm trước nàng bị cảm nặng, sốt cao đến mức hôn mê. Mãi nhiều ngày sau nàng mới từ từ hồi phục. Sau khi khỏi bệnh, nhiều chuyện cũ đã từng lờ mờ như sương khói trong đầu nàng từ nhiều năm qua bỗng dần trở nên rõ ràng hơn. Chỉ là nàng vẫn chưa dám hoàn toàn khẳng định. Sau đó nàng bắt đầu gặp những giấc mơ như vậy. Đêm nay nàng lại một lần nữa tỉnh dậy từ giấc mơ đã xuất hiện nhiều lần kia. Bốn bề tĩnh lặng nhưng tâm sự nàng lại càng thêm chồng chất.

Đột nhiên lúc này, bên ngoài hướng tiền sảnh có một tiếng động mơ hồ. Có vẻ như có người trở về ngay trong đêm, làm kinh động đến cả phủ.

Nàng biết là ai.

Ban ngày hôm nay Chúc Nhi cũng có nhắc đến một câu rằng thiếu chủ nơi đây, người tên là Bùi Tiêu Nguyên, sắp trở về rồi.

....

Giờ Hợi (khoảng 9 giờ tối đến 11 giờ đêm), Thủ thành bị đánh thức bởi tiếng vó ngựa từ xa vọng lại ngoài thành, vội chạy lên đầu thành quan sát. Có một đoàn ngựa lớn đang tiến về phía cổng thành, tiếng vó ngựa rầm rập như sấm chớp mưa rào bất chợt đến vào đêm hè, chớp mắt đã cuộn đến gần. Tiếng ngựa hí, tiếng quất roi, tiếng va chạm của đao cung đeo trên người kỵ sĩ xen lẫn tiếng hô hoán của người Hồ, ùn ùn đổ về phía cổng thành như thủy triều hỗn loạn.

Gió đêm thổi tan một đám mây như mực trên không trung, ánh trăng xuyên qua khe mây chiếu xuống, làm lộ rõ đoàn người trở về dưới ánh trăng này.

Dẫn đầu là hai con ngựa chiến cao lớn được mọi người vây quanh. Hai người trên lưng ngựa đều là thanh niên, trang phục cũng tương tự: áo bào cổ tròn gọn gàng, áo khoác ngoài chống gió, thắt lưng đai da với nhiều túi nhỏ, đeo dao tiện lợi, kiếm và ống tên đựng tên lông vũ. Khi đến trước cổng thành, hai người dừng ngựa. Một thanh niên trong số đó chỉ về phía trước nói vài câu gì đó, người còn lại hơi gật đầu rồi quay mặt lại, nhìn về phía đầu thành.

Đó là một gương mặt trẻ tuổi và anh tuấn. Ánh trăng trên đỉnh đầu xen lẫn với màn đêm xung quanh phản chiếu khiến ánh mắt hắn nhàn nhạt như có một vầng trăng lạnh lùng bên trong.

Thủ thành nhận ra ngay, người đến chính là Vân Kỵ Úy Bùi Tiêu Nguyên đã vắng mặt bấy lâu, vội vàng ra lệnh cho thủ hạ mở cổng thành, đón đoàn người vào.

Hôm qua khi Bùi Tiêu Nguyên đang đi trên đường thì gặp Hà Tấn đến đón. Hắn được biết bác mình Bùi Ký có việc gấp muốn tìm mình. Hắn hỏi là việc gì nhưng Hà Tấn lại không nói rõ được, chỉ nói trông Thái Thú rất sốt ruột. Sợ lỡ việc, hắn giải thích vài câu với Thừa Bình rồi không đi thong thả nữa mà khẩn trương lên đường, cuối cùng đã đến nơi ngay trong đêm dưới ánh trăng muộn.

Vì chuyến này Thừa Bình vào Kinh mang theo nhiều vật phẩm chúc mừng và cống phẩm, bao gồm hai trăm con ngựa chiến. Ngoài ra, quan lại, hộ vệ và nô bộc tùy tùng tổng cộng lên đến hàng trăm người. Toàn bộ người và xe ngựa tập trung dừng ngoài cổng thành, động tĩnh thực sự không nhỏ. May mắn là bên này đã được thông báo trước nên đã có sự chuẩn bị. Đoàn tùy tùng nhanh chóng ổn định.

Bùi Tiêu Nguyên vốn định mời Thừa Bình đến dịch trạm nghỉ ngơi – nơi đó đã được chuẩn bị sẵn sàng để tiếp đón Hoàng tử và các quan viên tùy tùng. Nhưng Thừa Bình lại không muốn, vừa nãy ở ngoài cổng thành đã nói với hắn là quá nhàm chán, muốn theo hắn về cùng ở Dinh Thái Thú. Vài năm trước khi hai người tham gia chiến dịch chống Tây Phiên, họ từng uống chung chén, ngủ chung lều. Lần này chẳng qua là ở chung một phòng, Bùi Tiêu Nguyên đương nhiên không có ý kiến gì, liền dẫn gã về phủ. Bùi Ký cũng đã nhận được thông báo từ sớm nên đích thân ra đón người.

Thừa Bình là người có tính cách ngông cuồng hoang dã, thế nhưng khi đối diện với Bùi Ký – vị cựu đại thần nổi tiếng của triều đình – thì gã cũng không dám tỏ vẻ kiêu căng. Hơn nữa khi còn nhỏ, gã từng bị gửi đến Kinh thành làm con tin và sống ở đó nhiều năm nên cũng học được và thông thạo lễ nghĩa, phép tắc của người Hán. Gặp Bùi Ký, thái độ gã cung kính, mở lời liền nói mình là người quen cũ, lại là hậu bối, sợ làm phiền ông nên định đến quán dịch nghỉ ngơi nhưng vì Bùi nhị lang nhiệt tình mời về ở cùng nên gã không tiện từ chối, đành phải quấy rầy.

Bùi Tiêu Nguyên liếc gã một cái, Thừa Bình còn không thèm chớp mắt mà nghiêm trang nhìn Bùi Ký.

Bùi Ký đương nhiên liên tục nói tốt, rồi gọi người đưa khách đi nghỉ ngơi.

Đợi Thừa Bình cười híp mắt đi rồi, Bùi Tiêu Nguyên mới giải thích: “Cháu không biết bác có việc tìm nên trên đường về cùng Thừa Bình cứ đi rồi dừng mới bị trì hoãn, nếu không đã về từ nửa tháng trước.”

Bùi Ký nói không sao, mượn ánh đèn nhìn thấy cháu trai dính đầy bụi đường, lại đã nửa đêm bèn bảo hắn mau đi nghỉ.

Bùi Tiêu Nguyên không động đậy.

“Hà thúc nói bác tìm cháu có việc, nếu là chuyện quan trọng thì cháu không mệt.”

Bùi Ký bèn dẫn hắn vào thư phòng, đóng cửa lại, xong lại chỉ nhìn người đang đứng trước mặt mà không mở lời.

Ban đầu Bùi Tiêu Nguyên tưởng là có quân tình đột xuất, nhưng lúc này gặp mặt nhìn dáng vẻ của bác mình thì biết rõ ràng không phải. Bị ông nhìn như vậy, một lúc sau dù kiên nhẫn đến mấy cũng không chịu nổi, đành hỏi lại: “Có việc gì thì bác cứ nói ra đi ạ.”

Bùi Ký vừa rồi lại vì cháu trai mà nhớ đến chuyện cũ năm xưa.

Cuộc biến loạn năm đó khiến nửa giang sơn nghiêng đổ, vạn ngàn sinh linh lầm than. Ông cũng mất cả em trai và con trai. Cảm giác đau đớn thấu xương ấy đến nay nghĩ lại vẫn khó lòng nguôi ngoai. May mắn thay cũng có chuyện đáng mừng, cháu trai cuối cùng cũng trưởng thành. Chờ đến khi nó lập gia đình nữa thì coi như ông đã hoàn thành một tâm nguyện lớn.

“Tiêu Nguyên, cháu có biết Diệp Chung Ly của triều Tiên Đế không?” Cuối cùng ông cũng mở lời.

Diệp Chung Ly là một họa sư cung đình thời Tiên Đế cách đây vài chục năm. Nghe nói ông ta xuất thân bần hàn đơn độc, thời niên thiếu một cây bút vẽ, một thanh trường kiếm phiêu bạt khắp bốn phương. Sau này ông lĩnh hội được họa kỹ từ kiếm đạo, danh tiếng vang khắp thiên hạ. Sơn thủy, chân dung, Phật giáo, Đạo giáo, không có gì là ông không tinh thông. Tiên Đế nghe danh bèn cho mời vào cung, ban cho chức quan họa sĩ cận thần. Thời đó ở Kinh thành không ai không biết tên ông. Nhiều đạo quán và tư viện lấy việc mời được ông vẽ bích họa làm vinh dự. Nơi nào có bích họa thần Phật do ông vẽ, nơi đó chắc chắn sẽ nổi tiếng vang dội, người dân tranh nhau đến chiêm bái, hương khói cực kỳ thịnh vượng.

Và tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là bức Thiên Nhân Kinh Lạc trường quyển (cuộn tranh dài Thiên Nhân Kinh Lạc) được vẽ theo lệnh tại điện Vĩnh An của Vạn Tuế Cung ba mươi năm trước. Tương truyền, vì bức bích họa này, đầu tiên ông đi khắp vùng Kinh Kỳ, đợi đến khi trong lòng có được toàn cảnh ông liền bế quan vẽ tranh, quên ăn quên ngủ, không phân biệt ngày đêm, hoàn thành trong một tháng. Nhưng cũng chính vì bức tranh này mà ông đã hao tổn tâm lực quá mức. Sau khi hoàn thành, ngón tay ông thậm chí còn không thể giữ được bút vẽ, cứ thế buông bút rơi xuống đất còn bản thân ông thổ huyết ngay tại chỗ. Đến Tết Nguyên Đán năm sau, Tiên Đế mở tiệc chiêu đãi phiên di bốn phương đến triều bái tại điện Vĩnh An mới xây xong. Khi tác phẩm khổng lồ bằng sơn thủy này được hé lộ trước mặt mọi người thì những người có mặt, ngay cả các quần thần đã sống lâu trong Kinh thành cũng đều kinh ngạc chứ đừng nói đến các nước phiên bang.

Theo hồi ức của một cung nhân cũ từng may mắn chứng kiến cảnh tượng ngày hôm đó, bức bích họa cao hơn ba trượng, dài hơn mười trượng, phủ kín ba mặt tường cung phía Tây, Đông và Bắc, vươn từ mặt đất lên trời, nhìn vào không giống với một tác phẩm do phàm nhân làm nên. Bức tranh chia làm hai phần: Thiên và Địa. Trên trời có bảy mươi hai bộ Thần Tiên, mỗi vị ở vị trí của mình, xung quanh là hàng trăm Kim Đồng Ngọc Nữ và Thần Lại Thị Thần khác nhau. Hạc tiên, hoa sen, mây khí lượn lờ. Hình dáng của chư thần sống động như thật, áo lông bay phấp phới, như đang nhìn xuống nhân gian, cưỡi mây giáng lâm. Phần dưới là cảnh Trường An dài rộng, từ Tây sang Đông, lần lượt miêu tả núi non hùng vĩ, sông suối uốn lượn, cửa ải thành quách uy nghiêm, cung uyển tráng lệ, phố chợ phồn hoa, người qua lại đông đúc. Hai phần trên dưới Thiên Nhân hợp nhất, như một cuộn tranh từ trời từ từ mở ra trước mắt mọi người.

Nếu không phải thiên triều có của cải quý báu, làm sao có được khí thế hùng vĩ đến mức soi sáng chòm sao Ngưu Đẩu và lay động lòng người như vậy? Cảm giác choáng ngợp, chấn động như thể trời áp xuống đầu, khiến những người có mặt không tự chủ được mà quỳ lạy, đồng thanh hô Vạn Tuế với Tiên Đế. Một loạt vương gia phiên di và sứ giả càng thêm mê mẩn, kinh ngạc trước sự cường thịnh và giàu có của Đế quốc, quỳ rạp xuống đất hồi lâu cũng không đứng dậy.

Cảnh tượng ngày hôm đó sau một thời gian dài vẫn là chủ đề đáng tự hào của người dân Kinh thành. Cho đến mãi sau đó, đất nước thịnh cực rồi suy, Kinh thành thất thủ, quốc gia gặp nạn, tất cả những điều này càng trở thành hồi ức của người đời về quá khứ tươi đẹp ngày đó. Đáng tiếc, bức tranh này dù nổi tiếng khắp thiên hạ, được Tiên Đế yêu quý, được không biết bao nhiêu người trên đời muốn chiêm ngưỡng dung nhan thật của nó, cuối cùng vẫn dễ vỡ như lưu ly. Vạn Tuế Cung bị thiêu rụi khi phản quân công phá thành, cuộn tranh dài trên tường, kết tinh tâm huyết của Diệp Chung Ly cũng bị hủy hoại trong lửa lớn, như hoa ưu đàm* nở chớp nhoáng, từ đó không còn tồn tại trên đời nữa.

*Hoa ưu đàm là loài hoa huyền thoại trong Phật giáo, được xem là điềm lành cực hiếm, chỉ nở một lần trong 3000 năm, báo hiệu sự xuất hiện của bậc giác ngộ.

Bùi Tiêu Nguyên không mấy hứng thú với tranh vẽ. Khi Diệp Chung Ly nổi danh nhất thì hắn còn chưa ra đời, nhưng cái tên này quá huyền thoại, đương nhiên hắn biết.

Sau cái Tết Nguyên Đán năm đó, Diệp Chung Ly cáo bệnh rời cung, từ đó như hạc bay vào rừng sâu, không rõ tung tích. Tiếp theo là một cuộc biến loạn kinh thiên động địa, sinh mạng con người rẻ mạt như kiến cỏ. Sau đó hoàn toàn không có tin tức gì về ông nữa, người ta suy đoán ông cũng đã chết trong chiến loạn.

Dù ông đã ra đi và tác phẩm tâm huyết vĩ đại lẽ ra phải lưu truyền trăm đời của ông cũng bị hủy hoại trong chiến tranh, nhưng sách về kỹ thuật vẽ do chính ông biên soạn lại được lưu truyền rộng rãi. Các thợ vẽ dân gian tôn sùng ông như thần thánh. Đến tận ngày nay, đã mấy chục năm rồi mà ông vẫn được đồn đại thành một nhân vật gần như thần tiên. Mọi người đều nói Diệp Chung Ly vẽ rồng có thể gọi mây hô mưa, vẽ Phật có thể điểm hóa chúng sinh.

“Cháu từng nghe danh người này. Chắc là đã không còn trên đời nữa rồi. Thật đáng tiếc.”

Bác vội vã gọi mình về lại để nói về một nhân vật trong quá khứ hoàn toàn không liên quan đến mình như vậy, Bùi Tiêu Nguyên cảm thấy khó hiểu trong lòng nhưng không thể hiện ra. Hắn biết chắc chắn sẽ có chuyện tiếp theo nên trả lời như vậy.

Đọc mỗi ngày nhận 200 hạt
Đăng nhập, đọc 1 chương ≥ 1 phút — hạt dùng đổi hoặc giảm giá Gói VIP.
Đăng nhập nhận hạt
Sử dụng mũi tên trái (←) hoặc phải (→) để chuyển chương