Chương 21
Xuân Phong Lâu nằm bên cạnh Đại lộ Chu Tước – nơi được gọi là Thiên Nhai phồn hoa nhất kinh thành. Tiếng trống đường lúc hoàng hôn đã tắt từ lâu nhưng yến tiệc và những cuộc vui ở đây mới chỉ bắt đầu. Nhìn từ xa, đèn hoa lấp lánh như sao trời, phản chiếu tòa lầu cao dành cho người hưởng lạc này trông như một tiên cung giữa màn đêm.
Bùi Tiêu Nguyên đến đúng hẹn. Thừa Bình và một nhóm con em đến từ các vệ quân cấm quân khác nhau đều đã đợi hắn. Những thanh niên này ai nấy xuất thân đều không tầm thường, ra ngoài là cận vệ của Thiên tử, về nhà là con em chốn công hầu hào môn. Suốt ngày nhàn rỗi chơi chim ưng, dắt chó săn, phóng ngựa đấu tên, chưa bao giờ lo lắng ngày mai sẽ ra sao, chỉ mơ mộng một mai lập được công danh sự nghiệp, lưu danh thiên hạ.
Thế nhưng đêm nay, vị khách mới trở về Trường An này lại trở thành nhân vật trung tâm của buổi tiệc.
Không ít người trong số họ ngay từ ba năm trước đã nghe danh con trai của Thần Hổ tướng quân. Tưởng tượng đến cảnh mình cũng cưỡi ngựa trên sa trường, dọc ngang quyết đoán như thế, ai nấy đều hào hứng, nhiệt huyết dâng trào. Lần này biết hắn được triệu về kinh vào Kim Ngô Vệ, dù chỉ để thoả mãn lòng tò mò thì họ cũng muốn đến xem thử rốt cuộc đó là hạng người gì.
Đêm đó tiệc rượu được bày ở Đông Lầu, tiệc tùng linh đình, mâm ngọc chén vàng. Những người được gọi đến gảy đàn tiếp rượu đều là những quan kỹ hạng nhất thuộc Giáo Phường, tiếng ca múa trong ánh đèn không dứt. Đám con em thấy hắn dung mạo xuất chúng, phong thái hào sảng, trò chuyện cười nói tự nhiên, rượu uống ngàn chén không say thì ai nấy đều ngưỡng mộ, tranh nhau lên trước kết giao. Tiệc tàn vẫn chưa thấy thỏa lòng, họ vừa nói vừa cười vây quanh hắn và Thừa Bình xuống khỏi Đông Lầu. Có người đề nghị chuyển sang phường Bình Khang tiếp tục vui chơi thâu đêm.
Thừa Bình quàng tay qua vai hắn, liên tục nói tốt.
Bùi Tiêu Nguyên thấy bước chân gã không vững, là dáng vẻ đã say khướt rồi, biết gã đã uống quá chén liền cười nói xin nhận ý tốt nhưng tối nay đã không ra được khỏi cổng phường nữa, chi bằng nghỉ đêm tại đây, lần tới thuận tiện hắn sẽ làm chủ, mời mọi người đến đó uống rượu sau.
Thừa Bình la hét bảo mình chưa say, tay quờ quạng lục lọi trong vạt áo, nói: “Ngươi sắp vào Kim Ngô Vệ, ta không để ngươi phải khó xử! Ta đã chuẩn bị sẵn rồi, đây là Lộ phù ta lấy được, bảo đảm đi lại không có ai ngăn cản đâu!”
Vì đại lễ Vạn Thọ của Thánh nhân nên gần đây việc tuần tra ban đêm trong kinh thành đã trở nên nghiêm ngặt hơn trước rất nhiều. Tuy trong các phường vẫn như cũ nhưng hễ ra ngoài thì việc canh gác đường phố về đêm đã được tăng cường. Đặc biệt là ở những khu vực phồn hoa như thế này thì lại càng thắt chặt hơn.
Nghe nói đây là mệnh lệnh của Kim Ngô Đại tướng quân Hàn Khắc Nhượng. Sau khi đóng cửa phường, nếu không có lý do xác đáng và không có giấy tờ chứng minh thì không được tùy ý ra vào; nếu vi phạm thì tất cả đều bị xử lý theo luật. Với thân phận như bọn họ, nếu không may bị bắt khi chưa khai báo trước, tuy không đến mức gặp đại họa nhưng cũng phải tốn không ít nước bọt mới được phóng thích. Hơn nữa nếu không tuân thủ kỷ cương thì việc xử lý tội trạng bây giờ cũng đã khác xưa.
Ngay mấy ngày trước một người con rể của Thần Võ Đại tướng quân Trần Tư Đạt vì say rượu đã ngoan cố xông qua cổng phường Bình Khang, bị các võ hậu tuần đêm bắt giữ. Y không những không phục mà còn thốt lời nhục mạ Hàn Khắc Nhượng, kết quả bị phạt đánh tại chỗ hai mươi roi rồi tống vào ngục của Kim Ngô Vệ giam giữ mấy ngày. Nghe nói cuối cùng đích thân Trần Tư Đạt phải đi tìm Hàn Khắc Nhượng mới bảo lãnh được con rể ra ngoài.
Tuy nhiên chỉ cần khai báo trước để lấy Lộ phù (tức là giấy thông hành) thì việc đi lại không có vấn đề gì.
Cả đám hầu như đã say lửng lơ nhưng hứng thú đang dâng trào, lẽ nào lại dễ dàng giải tán như vậy. Thấy Thừa Bình đã dẫn đầu không cho về thì tất cả đều hùa theo hò hét ầm ĩ.
Đúng lúc đó từ phía cầu thang của Tây Lầu đối diện cũng có một nhóm người “rầm rầm” đi xuống. Trông cũng giống như bên này, chắc là tiệc rượu vừa tàn nên ra về. Đám đông vây quanh một người ở giữa, tiếng hò hét cũng vang vang không dứt.
Khi gặp nhau ở lối đi chung xuống lầu, cầu thang không đủ chỗ cho tất cả mọi người, hai bên đều phải dừng lại một chút.
Người được vây quanh ở giữa phía đối diện cũng là một vị công tử trẻ tuổi, tóc búi kim quan, mình mặc cẩm bào, khuôn mặt tuấn tú đỏ gay vì men rượu, bước chân xiêu vẹo rõ ràng cũng đã say khướt. Chợt thấy lối đi bị chặn thì y ngước mắt nhìn sang, ban đầu vốn cũng chẳng có gì nhưng một kẻ đi theo sau ythì lại khác.
Kẻ đó nhìn thấy Bùi Tiêu Nguyên thì ánh mắt khựng lại rồi lập tức ghé tai vị công tử kia thì thầm vài câu gì đó không rõ. Sắc mặt vị công tử kia đột ngột biến đổi, y bỗng dừng bước, ánh mắt bắn về phía Bùi Tiêu Nguyên nhìn chằm chằm không rời.
Bùi Tiêu Nguyên nhận thấy sự bất thường cũng liếc nhìn đối phương một cái. Lúc này Thừa Bình đang say khướt bên cạnh cuối cùng cũng nhận ra không khí có gì đó sai sai, gã quay đầu nhìn lại thì cơn say lập tức tan quá nửa. Mặt gã phủ một lớp sương lạnh, ghé sát Bùi Tiêu Nguyên nói: “Là thằng ranh nhà Vũ Văn! Nó cũng mới đến kinh thành vài ngày trước, vừa nhậm chức Trung lang tướng của Long Võ Vệ, cũng ra oai lắm.”
Thừa Bình đã vào kinh hơn một tháng trước. Ngay hôm sau dù chưa được Thánh nhân đích thân triệu kiến nhưng ngay trong ngày đã được phong chức Trung Lang tướng của Tả Võ Vệ. Nghe tin thế tử của Tây Bình Quận vương phủ là Vũ Văn Trì đến nơi, cũng giống như mình giữ chức Trung Lang tướng của Long Võ Vệ thì trong lòng gã đã thấy không thoải mái rồi.
Trong trận chiến ba năm trước, nếu không phải Bùi Tiêu Nguyên ngăn cản Vũ Văn Khánh rút quân lại tạm thời tiếp quản quân Tây Bình để tham gia giải vây phản công thì giờ này e là Thừa Bình đã đầu thai vào cõi luân hồi nào rồi không biết. Nghĩ đến thù cũ, gã vốn đã nghiến răng ngứa mắt, chẳng ngờ đêm nay lại chạm mặt Vũ Văn Trì ở đây. Gã liếc xéo một cái, hừ lạnh một tiếng rồi cũng dừng bước.
Sau khi biết danh tính đối phương, Bùi Tiêu Nguyên cũng đã hiểu rõ sự tình.
Sau khi tin Vũ Văn Khánh tử trận truyền ra, Bùi Ký vì đạo nghĩa đã gửi thư chia buồn tới Tây Bình Quận vương Vũ Văn Thủ Nhân để bày tỏ sự áy náy. Vũ Văn Thủ Nhân không những không giận lây mà còn viết thư an ủi Bùi Ký, nói rằng tất cả đều là lỗi của con trai mình, là tự làm tự chịu; ngày đó may có Bùi Tiêu Nguyên ở đó, quân Tây Bình mới có cơ hội lấy công chuộc tội để cứu vãn danh tiếng. Ông ta thậm chí còn không quên hỏi thăm Hà Tiến – người bị Vũ Văn Khánh đâm bị thương.
Bất kể thư hồi âm của Vũ Văn Thủ Nhân có thực sự là điều ông ta nghĩ hay không thì ít nhất trên bề mặt, chuyện này đã qua rồi. Nhưng rõ ràng vị thế tử của Quận vương phủ trước mặt này lại có suy nghĩ khác với cha mình.
Đúng sai trong chuyện này Bùi Tiêu Nguyên đã không muốn dây dưa thêm cũng thấy chẳng cần thiết nữa. Tình hình lúc đó không cho phép cân nhắc quá nhiều, mọi hành động đều phải lấy chiến cục làm ưu tiên hàng đầu.
Hắn thấy Vũ Văn Trì vẫn đứng sững trên cầu thang, đôi mắt u ám nhìn mình chằm chằm thì chỉ gật đầu một cái rồi tiếp tục bước xuống lầu.
“Đứng lại!”
Phía sau đột nhiên vang lên một tiếng quát lớn, tiếp đó là tiếng “xoảng” vang lên. Vũ Văn Trì vươn tay rút phắt thanh kiếm từ thắt lưng của một kẻ đeo kiếm bên cạnh, mũi kiếm chĩa thẳng về phía Bùi Tiêu Nguyên nhanh như chớp.
“Ngươi đả thương huynh trưởng ta, khiến huynh ấy mất mạng mà định cứ thế bỏ đi sao?”
Thanh kiếm chỉ thẳng vào lưng Bùi Tiêu Nguyên, không biết là do say rượu hay do nộ khí quá thịnh mà mũi kiếm khẽ run rẩy.
Sau giây lát ngỡ ngàng, những người xung quanh cả hai bên nhanh chóng phản ứng lại. Tiếng cười nói huyên náo của khoảnh khắc trước đó đột ngột biến mất, thay vào đó là những tiếng binh khí rút khỏi bao “keng keng” liên tiếp không dứt. Mấy chục thanh đao kiếm trong nháy mắt đều được tuốt ra, đối đầu lẫn nhau. Chỉ trong chớp mắt ánh thép lạnh lẽo tỏa ra đầy sát khí, khiến đám ca kỹ đang phô diễn giọng hát ở đại sảnh sợ hãi thét lên, cùng với thực khách bỏ cả bàn tiệc trốn sang hai bên, chỉ sợ gặp phải tai bay vạ gió.
Bùi Tiêu Nguyên dừng bước quay người lại. Hắn thấy khuôn mặt Vũ Văn Trì cứng đờ, đáy mắt đỏ ngầu, hận ý như xuyên qua mũi kiếm áp sát tới.
Sau chiến sự Tây Phiên, hắn cũng có nghe loáng thoáng về chuyện gia đình của Quận vương phủ.
Vũ Văn Khánh có một người em trai ruột. Vương phi sinh ra hai anh em họ vốn không được lòng Quận vương, đã lâm bệnh qua đời sớm. Vũ Văn Khánh tuy cương liệt tự phụ nhưng lại rất mực quan tâm đến em trai, tình cảm anh em vô cùng sâu đậm. Vì vậy sau khi Vũ Văn Khánh chết, hắn từng nghe nói Vũ Văn Trì định một mình một ngựa đi tìm mình báo thù, hắn còn được dặn dò phải cẩn thận. Sau đó không biết sao chuyện lại lắng xuống, không ngờ đêm nay lại gặp nhau ở đây.
Bùi Tiêu Nguyên chưa kịp phản ứng lại thì Thừa Bình làm sao có thể nhẫn nhịn được. Gã cũng rút đao “xoảng” một tiếng, bước lên đứng hàng đầu, cầm đao chĩa lại ngay tại chỗ.
“Mày muốn thế nào? Thằng anh cả của mày ngày đó suýt nữa đã hại bao nhiêu anh em của tao chôn thây nơi Tây Phiên! Tao chưa tìm mày tính sổ thì thôi, mày còn dám tới đây gây hấn trước à? Tới đây! Vừa hay đã lâu rồi tao chưa động đến đao thương, để ông đây xem thử, đêm nay rốt cuộc là kiếm của thế tử Quận vương phủ sắc bén hay là đao trong tay tao nhanh hơn!”
Đám con em Trường An đi cùng vốn dĩ ngày thường đã coi trọng việc ân oán phân minh và sùng bái võ lực, lại thêm men rượu nên lòng người càng thêm sục sôi. Thừa Bình vừa dứt lời, những người phía sau đã lớn tiếng hưởng ứng. Phía đối diện dĩ nhiên cũng không chịu tỏ ra yếu thế. Nhất thời tiếng hét vang động cả mái nhà, hai bên đối đầu gay gắt, một trận ẩu đả sắp nổ ra.
Lúc này Bùi Tiêu Nguyên bước ra khỏi đám đông, cầm lấy thanh đao và vỏ đao đang nằm ở hai tay trái phải của Thừa Bình, đôi mắt nhìn thẳng về phía đối diện.
“Thế tử muốn thế nào Bùi mỗ cũng không dám chối từ, tất nhiên là sẽ dốc sức tiếp đón nhưng không phải ở đây. Đêm nay có nhiều huynh đệ tốt nể mặt Bùi mỗ mới đến chốn này. Thế tử đến đây chắc hẳn cũng là vì chuyện vui vẻ. Hà tất phải vì ân oán riêng tư giữa ta và ngươi mà làm liên lụy đến những người khác.”
Hắn tra đao vào bao, đầu cũng chẳng ngoảnh lại, vung tay ném trả cho Thừa Bình ở phía sau.
Thừa Bình chỉ đành lúng túng đón lấy ôm chặt vào lòng.
Bầu không khí “kiếm rút nỏ giương” nhờ hành động này của hắn mà cuối cùng cũng giãn ra đôi chút nhưng trong đại sảnh vẫn im phăng phắc, ai nấy đều nín thở, không dám phát ra một tiếng động nào.
Vũ Văn Trì nghiến răng ken két.
Những hàng nến lớn dày bằng bắp tay trẻ con rọi sáng như ban ngày, chiếu lên mấy đường gân xanh đang nổi cuồn cuộn trên trán y. Y đứng bất động nhưng mũi kiếm lại càng run rẩy dữ dội hơn.
Đúng lúc này một chuỗi bước chân dồn dập “lạch bạch” đã phá tan sự tĩnh lặng chết chóc. Một toán phu dịch xông vào từ cửa lớn tửu lầu, dẫn đầu là Phường chính của phường này.
Chủ nhân mở tiệm đón khách ở đây đương nhiên không phải hạng người tầm thường. Những chuyện như con em Trường An sau khi say rượu vì tranh giành một hai ca kỹ mà nảy sinh ghen tuông, đánh đấm lẫn nhau, chủ quán đã nhìn quen và ứng phó tự nhiên. Nhưng đêm nay người của cả hai bên đều không phải là đối tượng mà ông ta có thể đối phó được.
Vị khách bước xuống từ Đông Lầu tuy chưa rõ lai lịch cụ thể nhưng vị vương tử Lang Đình đi cùng lại là nhân vật đang nổi đình nổi đám ở Trường An gần đây.
Từ phía Tây Lầu xuống kia cũng ngang tài ngang sức, nghe danh là Thế tử của Tây Bình Quận vương phủ – con trai của đại công thần từng nghênh đón Lão Thánh nhân đi tuần du phía Tây năm xưa, hoàng ân mênh mông, sủng ái đến nay vẫn không hề giảm sút.
Chủ tửu lầu vừa nãy đứng ngoài cửa lo lắng ngóng đợi, thấy tình hình này liền vội vàng dẫn Phường chính vào đại sảnh.
Phường chính chạy đến giữa hai nhóm người, chắp tay vái chào tứ phía rồi liên thanh nói: “Các vị tôn khách đến đây tiêu dao, tiểu chức lời nhẹ ý mỏng, không dám quấy rầy. Chỉ là vừa hay mấy ngày trước có nhận được nghiêm lệnh của Kim Ngô Đại tướng quân: Tiết Vạn Thọ của Thánh nhân sắp tới, trên dưới phải đồng lòng giữ cho trong phường bình an. Lời của Đại tướng quân vẫn còn vang vọng bên tai, tiểu chức không dám không tuân theo nên mới đánh liều mở miệng khẩn cầu hai bên thu lại đao kiếm, lấy hòa làm quý, tuân mệnh Đại tướng quân cùng giữ thái bình!”
Nói xong ông ta không ngừng vái lạy, lại ra hiệu cho toán phu dịch đi tới. Đám phu dịch nhanh chóng ùa lên xếp hàng chắn ở giữa, lập tức ngăn cách hai bên ra.
Nếu nói khoảnh khắc trước đó đa số người trong hai nhóm đều vì say rượu mà bốc đồng thì lúc này nhờ lời nói của Phường chính không ít người sực tỉnh lại phần nào.
Gần đây lệnh cấm thắt chặt, ngay mấy ngày trước con rể của Thần Võ Đại tướng quân Trần Tư Đạt còn bị xử lý như vậy, mà nghe đâu cũng chỉ vì tội ngoan cố xông qua cổng phường mà thôi. Đêm nay nếu ở đây đao kiếm chạm nhau, lớn chuyện ra thì hình phạt sau đó e rằng còn nặng hơn.
Thừa Bình tuy hành sự ngông cuồng nhưng cũng không phải hạng người chỉ biết chém giết không có não.
Đêm nay vốn là tiệc tẩy trần cho hảo hữu, gã lại mới chân ướt chân ráo đến, nếu thực sự làm lớn chuyện cũng chẳng phải điều tốt. Hơn nữa Phường chính đã đến còn lôi cả Hàn Khắc Nhượng ra làm áp lực, nếu còn không chịu dừng tay thì chính là không nể mặt Hàn Khắc Nhượng rồi.
Gã vốn không muốn thấy máu nhưng nếu đối phương bất chấp tất cả thì tất nhiên gã sẽ tiếp đãi đến cùng, lẽ nào phải sợ? Gã liền trừng mắt nhìn Vũ Văn Trì.
Những người đi cùng Vũ Văn Trì cũng đều lộ vẻ do dự, lần lượt nhìn vào thanh kiếm mà y đang cầm trong tay.
“Khẩn cầu Thế tử lấy đại cục làm trọng. Thực sự là lời của Hàn Đại tướng quân tiểu chức không dám không theo!” Phường chính quỳ sụp hai gối xuống đất, bắt đầu dập đầu.
Khóe mắt Vũ Văn Trì đỏ rực như muốn nhỏ máu. Sau một hồi im lặng chết chóc một tiếng “keng” vang lên, y buông tay ném kiếm xuống đất rồi lập tức thu lại ánh mắt, lảo đảo bước xuống lầu, một mình đi thẳng ra ngoài.
Đám con em đi cùng thấy vậy cũng lần lượt thu đao kiếm đi theo y.
Một trận tranh đấu suýt chút nữa thấy máu đến đây cuối cùng cũng tan. Thừa Bình vừa thả lỏng thì men rượu lại xông lên, thanh đao trong tay cũng ôm không nổi nữa mà trượt xuống đất. Gã ngửa người ra sau nhưng nộ khí rốt cuộc vẫn khó tan, miệng lẩm bẩm: “Ngươi phải cẩn thận! Ta thấy thằng súc sinh đó còn điên hơn cả ta, sợ là chuyện gì nó cũng dám làm đấy!”
Bùi Tiêu Nguyên thản nhiên thu hồi ánh mắt từ bóng lưng của Vũ Văn Trì, đưa tay nhặt đao, đồng thời đỡ lấy Thừa Bình.
“Đêm nay đa tạ các vị đã nể mặt, ta đưa Vương tử về trước. Lần tới ta sẽ làm chủ mời lại, lúc đó khẩn cầu các vị nhất định phải nể mặt đến dự.” Hắn mỉm cười nói với những người xung quanh.
Vừa rồi náo loạn một trận như vậy nên hứng thú ban đầu của mọi người cũng đã tan sạch, nghe vậy đều đồng thanh hưởng ứng rồi giải tán, không nhắc lại nữa.
....
Đêm ấy Nhược Vũ ngủ một giấc thật dài và sâu. Khi tỉnh dậy đã là sáng hôm sau, ánh nắng rạng rỡ, đến cả tiếng trống đường buổi sáng cũng không làm nàng tỉnh giấc.
Nàng chậm rãi mở mắt, nhìn chằm chằm vào tấm trần nhà loang lổ vết mốc hiện ra trong ánh ban mai. Sau một hồi định thần, nàng trở mình xuống giường, thu dọn đồ đạc bước ra ngoài.
Nàng chợt nhớ đến một người.
Người đó tên là Vệ Nhân Nương. Cha của chị ấy là Vệ Minh Huy, từng là hầu cận của Cảnh Thăng Thái tử và là Thần Võ Đại tướng quân của cấm quân khi đó. Mối duyên giữa Nhược Vũ và chị ấy bắt đầu từ việc họ có chung một nhũ mẫu.
Kể từ khi được ông nội nhận nuôi năm năm tuổi thì suốt nhiều năm qua, ngoại trừ lần bị sốt do dầm mưa quá lâu ba năm trước thì sức khỏe của nàng vẫn luôn rất tốt. Lúc theo ông đi khắp nơi nàng hầu như chưa từng lâm bệnh. Nhưng trước đó khi còn là Quận chúa, có lẽ do được chăm sóc quá kỹ lưỡng nên nàng hở ra là mắc đủ thứ bệnh vặt, cơ thể yếu ớt khiến A nương rất lo lắng. Năm nàng ba tuổi, nghe danh nhũ mẫu nhà họ Vệ nuôi dạy con cái rất khỏe mạnh, nay bà đang nhàn rỗi nên A nương đã đón bà về. Cứ thế Nhược Vũ quen biết Vệ Nhân Nương.
Có lẽ do có duyên, ngay lần đầu gặp mặt Nhược Vũ đã thích Vệ Nhân Nương. Chị ấy lớn hơn Nhược Vũ tám tuổi, dịu dàng và tĩnh lặng. Nhược Vũ gọi chị ấy là A tỷ, chị ấy cũng đối đãi với Nhược Vũ như em gái ruột. Vì Nhược Vũ thích bám lấy chị ấy nên sau khi được cha mẹ nhà họ Vệ đồng ý thì chị ấy thường đến vương phủ ở lại một thời gian ngắn. Hai năm sau khi chị ấy lớn hơn một chút, năm mười ba tuổi, chị ấy được chọn làm nội quan (thiếp thất) cho Hoàng thái tôn Lý Diên. Chính vì Nhược Vũ không nỡ xa chị ấy mà Lý Diên lại cực kỳ cưng chiều cô em họ Nhược Vũ này nên sau khi bàn bạc, chuyện nhập cung đã được hoãn lại nửa năm để Nhược Vũ có thêm thời gian được ở bên cạnh chị ấy.
Thế nhưng có ai ngờ nửa năm sau biến loạn xảy ra, việc Vệ Nhân Nương vào viện của Hoàng thái tôn buộc phải dừng lại lần nữa.
Đêm trước khi Trường An thất thủ, Vệ Nhân Nương cũng có mặt ở Định Vương phủ.
Sau khi biến loạn xảy ra không lâu, Định Vương đã theo sau Bùi Ký, tức tốc đến vùng Trung Nguyên phía Bắc – nơi tình hình loạn lạc nghiêm trọng nhất lúc bấy giờ. Hơn nữa ông không chỉ chỉ huy từ xa mà còn đích thân trấn giữ quân doanh. Mỗi khi có chiến đấu thì ông nhất định một mình một ngựa xông pha đi đầu, còn từng bị trúng tên vào ngực, nếu không nhờ áo giáp hộ thân thì đã sớm gặp bất trắc.
Với thân phận hoàng tử mà không sợ hiểm nguy, hành động của ông đã khích lệ tinh thần quan quân nơi tiền tuyến rất lớn. Nhưng cùng với đó thì trong vương phủ chỉ còn lại mẹ con Ân Vương phi. Vương phi lại không được lòng Vương Thái hậu trong cung nên Vệ Nhân Nương đã chủ động chuyển đến ở cùng để bầu bạn với Vương phi và Nhược Vũ.
Đêm đó, tướng hộ vệ của Vương phủ là Quách Túng đã vội vã quay về, cùng Triệu Trung Phương đưa Nhược Vũ hốt hoảng rời khỏi phủ, Vệ Nhân Nương cũng bị người ta tất tả đưa về Vệ gia.
Tìm được chị ấy hoặc người nhà họ Vệ thì có lẽ sẽ nghe ngóng được thêm nhiều tin tức về Triệu Trung Phương.
Ngày hôm ấy Nhược Vũ tìm đến phường Phụ Hưng nằm gần Hoàng thành. Dựa vào những ký ức sót lại nàng vừa đi vừa dừng, tìm kiếm trong phường suốt hơn nửa ngày trời cuối cùng cũng tìm thấy ngôi nhà trong ấn tượng, trước cửa có một cây liễu già.
Nàng gõ cửa, một tên canh cửa xuất hiện, đánh mắt nhìn nàng từ đầu đến chân rồi hỏi có chuyện gì.
“Cho hỏi đây có phải là Vệ phủ không?”
Đối phương lắc đầu: “Ngươi tìm nhầm rồi! Vệ phủ gì chứ, chủ nhân nhà ta họ Bạch!” Nói đoạn y phẩy tay định đóng cửa. Nhược Vũ giơ tay chặn lại: “Làm phiền cậu cho hỏi thêm một câu. Tôi đến tìm một người cũ. Tôi nhớ chủ nhân cũ của ngôi nhà này họ Vệ, nếu họ đã dọn đi thì cậu có biết họ chuyển đi đâu không?”
“Chủ nhà từ bao giờ cơ?”
“Khoảng hai mươi năm trước…”
Tên đó cười khẩy một tiếng: “Hai mươi năm trước? Chủ nhân nhà ta mua ngôi nhà này từ ba năm trước, nghe nói trước đó đã đổi qua ba bốn đời chủ rồi. Hai mươi năm trước? Đó còn là triều Cảnh Thăng của Lão Thánh nhân!”
Tên canh cửa không thèm để ý đến nàng nữa, “cạch” một tiếng đóng sầm cửa lại.
Nhược Vũ lặng lẽ đứng dưới gốc liễu già ngoài cửa hồi lâu rồi xoay người rời đi. Khi đi đến góc phía Đông Nam của phường, trong không khí theo gió thoảng đến mùi thơm cháy xém của thức ăn.
Trong sâu thẳm ký ức tuổi thơ của nàng, mùi vị của Trường An ngoại trừ hương trầm, thụy long não, tô hợp, hoa nhài tỏa ra khắp nơi trong Vương phủ và Hoàng cung, thì dường như chỉ còn sót lại hương thơm nồng nàn có thể đi thẳng vào ruột gan này.
Nàng không tự chủ được mà dừng bước, đuổi theo hướng gió thổi, rẽ qua mấy góc đường, đến một nơi thưa thớt người qua lại.
Ở cuối một con hẻm nhỏ nàng nhìn thấy một nơi trông rất quen thuộc.
Cánh cửa thấp bé, lò đất vàng, mười mấy chiếc bánh mè vừa làm xong được xếp chồng ngay ngắn, than củi chất ở góc tường. Buổi chiều khách khứa thưa thớt, một con chó vàng già bị ghẻ lở đang lười biếng nằm sát chân tường ngủ dưới ánh nắng xuân rạng rỡ. Trên chiếc ghế gỗ nhỏ dành cho khách ngồi, một bà lão đang tranh thủ lúc rảnh rỗi mà chợp mắt.
Nhược Vũ nhìn trân trân vào cảnh tượng đó. Con chó vàng già phát hiện có người, “ư ử” hai tiếng làm bà lão giật mình tỉnh giấc. Bà lão vội vàng đứng dậy với thân hình khô héo, cười hỏi nàng có ăn bánh không, trong cái miệng móm mém lộ ra mấy chiếc răng vàng lủng lỗ.
Bà ấy chính là “Hồ nương tử” năm xưa, nốt ruồi nơi khóe môi vẫn còn đó. Chỉ có điều khi Nhược Vũ còn là Lý Hộ Nhi thì thân hình của người đàn bà bán bánh ấy nảy nở, đôi má đầy đặn, khi cười mời chào khách sẽ lộ ra hàm răng trắng đều tăm tắp như hạt bắp.
“Tiểu lang quân?” Thấy Nhược Vũ ngẩn ngơ nhìn mình, bà lão lại gọi thêm một tiếng.
“Vâng. Cháu đến ăn bánh.” Nhược Vũ gật đầu.
Bà lão nở nụ cười vui sướng, lảo đảo đi lấy bánh cho nàng. Nhược Vũ ngồi xuống, cắn một miếng. Chiếc bánh vừa mới ra lò còn mang theo hơi nóng, dầu thơm bột giòn, dường như chính là hương vị mà Nhược Vũ từng lưu giữ trong ký ức nhưng lại như đã khác xưa rồi.
Nhược Vũ chậm rãi nhai.
Bà lão đứng một bên nhìn nàng, ánh mắt đầy kỳ vọng. Đợi nàng nhai một lúc thì bà liền dùng giọng điệu cẩn trọng hỏi: “Khách quan thấy mùi vị thế nào?”
“Ngon lắm ạ!” Nhược Vũ nuốt miếng bánh, lại cắn thêm một miếng lớn.
Bà lão nở nụ cười an lòng, lảo đảo đi đến bên cạnh con chó già, ngồi lại xuống ghế gỗ, khẽ thở dài: “Nhưng Trường An giờ chẳng còn ai thích bánh tôi làm nữa rồi. Họ đều đến chỗ một cô gái người Hồ ở Tây Thị để ăn, bảo bánh của nàng ta mới ngon. Nếu không nhờ một vài vị khách cũ từ thời Cảnh Thăng biết đến tôi tìm tới thì tiệm bánh này của tôi đã chẳng thể mở nổi nữa rồi.”
Trong đôi mắt già nua đục ngầu của bà thoáng hiện lên một nỗi u sầu nhàn nhạt.
“Sao mà sau khi quay về họ lại thấy bánh của tôi không ngon nữa nhỉ? Rõ ràng chỗ tôi từng nổi tiếng nhất, ngay cả Diệp Chung Ly năm đó cũng từng đến ăn. Nhớ lúc đó người đông lắm, phải xếp hàng mới đến lượt, nhưng nếu ông ấy đến thì ai nấy đều nhường đường bảo ông ấy mua trước. Ông ấy còn vẽ một bức tranh tặng tôi, ngày nào cũng có người đến quấy rầy muốn tôi bán bức tranh đó cho họ. Chẳng được mấy năm thì thế đạo đổi khác, loạn binh đánh vào Trường An, Lão Thánh nhân bỏ chạy, tôi cũng mang theo bức tranh của mình chạy trốn. Trên đường gặp một toán quân lính bỏ trốn, chúng thực sự rất ác độc, gặp ai cũng cướp. Tôi thấy một người đàn bà không chịu đưa tay nải, chúng liền chặt đứt tay bà ta. Bức tranh của tôi cũng bị cướp mất, chúng tự cướp qua cướp lại của nhau, một người chém lệch đầu người kia, cổ lủng lẳng như cái lồng đèn, đổ sụp xuống vai, máu phun đầy đất, vậy mà người đó vẫn chưa chết, còn xé bức tranh trong tay nhét vào miệng không cho ai khác có được rồi lúc đó mới tắt thở…”
Mắt bà lão nửa nhắm nửa mở, cứ lầm bầm tự nói một mình không dứt, giọng điệu không chút lên xuống, bình thản như đang tụng kinh.
Nhược Vũ lặng lẽ nghe xong, hỏi: “Bà lão ơi, vậy bà có biết chủ cũ của ngôi nhà ở góc phía Tây Nam triều Cảnh Thăng không? Họ bây giờ đi đâu rồi? Cái nhà có cây liễu già trước cửa ấy ạ.”
Bà lão nhọc công suy nghĩ hồi lâu, ngay khi Nhược Vũ tưởng rằng bà cũng đã quên mất thì bà chợt “A —” lên một tiếng.
“Tôi nhớ ra rồi, nhà đó họ Vệ. Khi đó tôi nhớ Tiểu quận chúa của Định Vương phủ cũng thường xuyên đến Vệ gia…”
Bà lão đột nhiên hạ thấp giọng, trên mặt lộ ra vẻ bí hiểm.
“Tiểu lang quân là người phương khác đến phải không? Tôi nói cho cậu biết, Định Vương chính là đương kim Thánh nhân đấy! Tôi nghe mấy vị khách cũ nói Tiểu quận chúa đã bị lạc mất trong đợt loạn lạc năm đó, sau này Thánh nhân tìm thế nào cũng không thấy.”
“Phải rồi, hồi đó Tiểu quận chúa thích ăn bánh của tôi nhất đấy! Thật đấy, tôi không lừa cậu đâu, là thật đấy!”
Nói đến đây thân hình gầy gò của bà lão như được tiếp thêm sức sống mới, cả người trong nháy mắt trở nên tinh anh hẳn lên, trong mắt cũng tỏa ra những tia sáng khác thường.
“Là thật đấy!” Bà nhìn Nhược Vũ rồi lại nhấn mạnh thêm lần nữa.
“Tiểu quận chúa thường đến tìm tiểu nương tử nhà họ Vệ, lần nào đến cũng phải ăn bánh của tôi. Tiểu nương tử nhà họ Vệ cũng hay một mình đến mua, dặn tôi rắc thêm nhiều mè vào. Cứ mỗi lần như vậy tôi lại biết cô ấy sắp đi thăm Tiểu quận chúa rồi. Tôi toàn bảo, cứ để Tiểu quận chúa tự đến mà ăn, bánh vừa ra lò mới là ngon nhất.”
“Haizz…”
Bà lão thoát ra khỏi ký ức cũ, thở dài một tiếng thườn thượt, tia sáng ngắn ngủi nơi đáy mắt cũng biến mất.
“Gia đình họ Vệ giờ đi đâu rồi, bà có biết không ạ?” Nhược Vũ khẽ hỏi.
“Mãi đến năm thứ hai sau khi quân triều đình thu phục Trường An tôi mới từ bên ngoài trở về. Nghe nói nhà họ Vệ dính líu đến vụ Thái tử Cảnh Thăng làm loạn, nam đinh bị chém đầu cả nhà, những người còn lại kẻ chết người ly tán, ngôi nhà cũng đã đổi chủ rồi.”
Nhược Vũ lặng người một lát.
“Vậy còn tiểu nương tử nhà họ Vệ? Ý cháu là người thường hay đi cùng Tiểu quận chúa ấy?”
“Nàng ấy à… tất nhiên là bị đổi thành tiện tịch rồi tống vào Giáo phường thôi. Còn giờ người đang ở đâu thì ai mà biết được, có khi mất sớm rồi, có khi bị chuyển đến một ngõ hẻm nào đó ở phường Bình Khang, cũng có khi quá lứa lỡ thì, được gã thương nhân nào đó nhìn trúng mua về làm thiếp… ai mà biết được chứ…”
Bà lão lầm bầm, đứng dậy lảo đảo đi đến bên lò, dùng kẹp sắt vun tro nén lửa để chút than còn lại cháy được lâu hơn.
Nửa chiếc bánh còn lại trong tay đã nguội dần, trở nên cứng và chát đắng nơi đầu lưỡi. Nhược Vũ ăn xong, từ trong túi tiền mang theo nàng để lại số tiền vừa đủ để bắt xe về, còn thừa khoảng mười mấy đồng nàng đặt lên chiếc ghế gỗ nhỏ bên cạnh con chó vàng già rồi lặng lẽ rời đi.
Từ sau ngày hôm đó cứ sáng sớm đến tối mịt, nàng không ngừng đi qua đi lại trong phường Bình Khang.
Tại khu phường nằm giữa Đông Thị và Hoàng Thành này có rất nhiều phủ đệ của các bậc đại quan quý tộc, cũng là nơi hội tụ của những chốn phong lưu khiến đàn ông trên đời mê đắm – những nơi này tập trung chủ yếu ở khu vực Tam Khúc phía Đông Bắc của phường.
Ở đó có những lầu cao gác tía cửa hướng ra phố chữ thập, nhưng cũng có những kỹ nữ thấp kém bị chính những người cùng nghề coi thường, sống dạt vào những căn nhà lụp xụp sát bức tường phía Bắc.
Nhược Vũ hỏi thăm từng nhà một, từ những nơi trú ngụ tồi tàn ở Bắc Khúc cho đến những thanh lâu lộng lẫy rộng lớn.
Nếu thực sự như lời bà lão nói, Vệ Nhân Nương đang ở nơi này thì dung mạo chắc hẳn cũng không có quá nhiều thay đổi so với năm xưa. Trong ký ức của Nhược Vũ, chị ấy có khuôn mặt tròn trịa như đĩa bạc và một đôi mắt phượng, khi cười một bên khóe môi sẽ có lúm đồng tiền – đây là một đặc điểm nhận dạng rất rõ ràng. Tuy nhiên liên tục tìm kiếm suốt mấy ngày, đi qua không dưới hai mươi nhà mà việc tìm người vẫn chẳng có chút tiến triển nào.
Trời gần sẩm tối, Nhược Vũ đành phải kết thúc chuyến chạy vạy vô ích của ngày hôm nay để trở về chỗ ở.
Nàng vẫn theo thói quen quay lại Tây Thị để bắt xe, vừa đi vừa mải mê suy nghĩ, băng qua đường tắt men theo bờ sông được gọi là Phóng Sinh Trì trong phường.
Phóng Sinh Trì thông với sông Tào ở phía Tây và phía Nam thành, trên sông thuyền bè qua lại không ngớt, các cửa hàng dọc bờ sông mọc lên san sát. Từ những thứ nhu yếu phẩm như gạo, than, đến những con chó nhỏ nước Khang mà các quý phu nhân ưa chuộng, hương thụy long não từ Giao Chỉ, trân châu Nam Dương quý hiếm, cho đến cả nô lệ Côn Luân và tì nữ Tân La, … Ở đây có thể mua được bất kỳ món đồ tốt nào trên đời, miễn là trong túi có đủ tiền. Trên một cây cầu gần đó lúc này người xe đang chen chúc, náo nhiệt vô cùng.
Đúng lúc này nàng bỗng nghe thấy có người gọi “Tiểu lang quân”, ban đầu nàng tưởng không phải gọi mình, nhưng rồi lại nghe thấy tiếng gọi lần nữa với giọng điệu vui mừng, nghe hơi quen tai. Quay đầu lại nàng nhận ra đó chính là ông cụ ở Tây Sơn mà nàng đã gặp và đi nhờ xe ở vùng ngoại ô phía Tây mấy ngày trước.
Cạnh đó là một tiệm nước thu nhận nước suối từ núi, ngoài cửa có đỗ một chiếc xe la, phu khuân vác đang bốc dỡ những thùng nước xuống. Trông có vẻ ông cụ đang đi đưa nước đến đây thì tình cờ gặp lại nàng.
Nàng lập tức bước tới chào hỏi, giải thích rằng vừa nãy mình không nghe thấy. Ông cụ vội nói không sao, chắp tay cười: “Không ngờ hôm nay lại gặp được tiểu lang quân ở đây! Thật là trùng hợp quá! Tiểu lang quân đã tìm được chỗ ở chưa? Mọi việc đều thuận lợi chứ?”
Nhược Vũ mỉm cười nói mọi chuyện đều tốt, rồi hỏi thăm tình hình của ông. Ông cụ bảo xe la đã sửa xong từ sớm rồi, nghỉ ngơi ở nhà vài ngày rồi hôm nay lại đi đưa nước. Sau vài câu chuyện phiếm, ông kéo một đứa trẻ đang thẹn thùng trốn sau xe la lén nhìn ra, bảo nó chào Nhược Vũ. Ông giới thiệu đây là cháu nội mình, tên là Sửu Nhi. Mấy ngày nay cháu đã khỏi bệnh nên hôm nay vào thành ông dắt theo bên mình luôn.
Đứa bé rất ngoan, lập tức tiến lên hành lễ. Lúc này nước trên xe đã dỡ xong, Nhược Vũ biết hai ông cháu còn phải vội vã quay về, đường sá không gần, sợ làm lỡ dở thời gian của họ nên nàng nói mình cũng có việc phải đi. Ông cụ bảo nàng chờ một lát rồi vội vàng đi đến bên xe la, đưa cho nàng một gói đồ rừng mang từ trong núi ra, định đem đến đây bán.
Nhược Vũ vội vàng từ chối nhưng ông cụ nhất quyết đưa: “Đây chỉ là chút tấm lòng của lão già này, khẩn cầu tiểu lang quân nhận cho!”
Nhược Vũ chỉ còn cách nhận lấy, rồi nhân lúc ông cụ quay đi tháo xe nàng vội vàng móc hết số tiền hai mươi ba mươi đồng mang theo trong người, nhét hết vào lòng Sửu Nhi, rồi xoay người lẩn vào chỗ đông người, rảo bước rời đi.
Sửu Nhi chạy đến bên ông cụ, móc số tiền trong lòng ra. Ông cụ vội vàng đuổi theo nhưng ngước mắt lên đã chẳng thấy bóng người đâu nữa, thở dài một cái rồi đành bế Sửu Nhi lên xe, thúc la rời đi.
Lúc này từ một tiệm y phục đối diện có một kẻ trông giống người sai vặt xông ra, lao nhanh lên cầu. Không rõ vì lý do gì mà một chân cậu xỏ chiếc giày mới, chân kia lại đi chân đất, hớt ha hớt hải suýt chút nữa đâm vào người khác. Cậu lao thẳng đến gần tiệm nước dưới chân cầu rồi kiễng chân ngó nghiêng. Nhưng trước mắt chỉ còn là đám đông chen chúc, đâu còn bóng dáng mà cậu vừa thoáng nhìn thấy qua sông nên tưởng là người quen?
Cậu sực nhớ ra hình như còn có một ông lão đưa nước, định hỏi thăm vài câu, quay đầu lại thì thấy xe la cũng đã đi mất rồi. Cậu vội vàng cất bước đuổi theo, nào ngờ chủ tiệm y phục cũng đã đuổi tới nơi, túm chặt lấy cổ áo cậu, quát tháo đòi đưa lên quan.
Tên sai vặt này chính là Thanh Đầu.
Ba ngày trước đó lại là một ngày triều hội.
Trăm quan tập trung tại Đãi Lâu Viện ngoài cửa Đan Phượng từ canh năm. Khi hoạn quan tuyên bố Thánh nhân lâm triều, ai nấy đều kinh ngạc vì Hoàng đế đã bế quan nhiều ngày cuối cùng cũng xuất hiện. Ngài đích thân triệu kiến một người trẻ tuổi vừa mới đến Trường An – Bùi Tiêu Nguyên, phong hắn làm Kim Ngô Trung Lang tướng đồng thời tuyên bố thành lập Lục Ngô Tư.
Khi Bùi Tiêu Nguyên bước vào đại điện dưới cái nhìn chăm chăm của hàng trăm đôi mắt rồi dập đầu tạ ơn thiên ân, cả đại điện im phăng phắc. Các quan viên có mặt mỗi người một thần sắc, nhưng có một điểm mà tất cả bọn họ đều giống nhau…
Đó chính là kinh ngạc.
Thực tế thì sau khi việc bổ nhiệm chức vụ trong Kim Ngô Vệ được định đoạt, không ít người đã ngẫm nghĩ lại và đoán rằng chuyện này có lẽ đã nhận được sự đồng ý của Thánh nhân, thậm chí rất có khả năng đây chính là ý chỉ của Ngài.
Nhưng dù có nghĩ nhiều đến đâu đi nữa họ cũng không ngờ rằng Thánh nhân lại đưa ra quyết định bổ nhiệm như vậy cho con trai nhà họ Bùi.
Trung Lang tướng tuy là chức vị có thực quyền, phẩm cấp lại không thấp, nhưng ở chốn kinh kỳ này thì cũng không thể coi là quá đặc biệt. Trong số những tài năng trẻ tuổi đến kinh đô cùng đợt với Bùi Tiêu Nguyên cũng có vài người được ban phong các chức vụ tương đương.
Việc trao chức vị này cho những thiếu niên con em huân quý, nói là trọng dụng thì chẳng bằng nói đó là ân sủng mà Thánh nhân ban tặng, có tính vinh hiển nhiều hơn.
Thế nhưng chức vụ Chưởng tư của Lục Ngô Tư thì hoàn toàn khác.
Ty này từ trước tới nay chưa từng có. Tuy nghe tên có vẻ chỉ là một nha ty tạm thời được Thánh nhân đặc biệt lập ra cho đại lễ Vạn Thọ nhưng chỉ riêng cái tên thôi đã đủ thấy vài phần khác biệt.
Lục Ngô là vị thần của núi Côn Luân, cai quản chín bộ phận trên trời và nơi ở của Thiên đế ở hạ giới.
Hoàng đế đặt tên như vậy thì ý đồ của nha môn này là gì, chỉ việc nhìn qua là hiểu rõ.
Huống chi vị Hoàng đế đã lâu không lộ diện nay lại lâm triều chỉ với mục đích triệu kiến một mình hắn – thế thì đây là một vinh dự cực kỳ to lớn.
Vài ngày đã trôi qua, những nhân vật tầm cỡ trong kinh thành hiện đang nghĩ gì thì Thanh Đầu không biết. Đối với cậu thì thay đổi lớn nhất chính là đột nhiên bận rộn hẳn lên. Cậu bận thay chủ nhân thu nhận đủ loại danh thiếp, khước từ dòng khách viếng thăm nườm nượp không dứt. Hôm nay cậu cũng thấy mất kiên nhẫn, chợt nhớ tới món quà ra mắt từng bỏ ra một đống tiền mà chưa tặng đi được, nghĩ mà xót của, để không cũng vô ích nên cậu bèn lén đi ra Tây Thị để hỏi xem nếu trả lại thì được bao nhiêu tiền. Nghe thấy cửa hàng bảo chưa được một nửa thì cậu tức giận quay đầu đi thẳng.
Vừa nãy đi ngang qua tiệm y phục mũ nón đối diện cây cầu, thấy bên trong có bán ủng da, nghĩ lại đôi giày dưới chân quả thực sắp mòn hết đế nên cậu bèn vào thử. Đang thử thì vô tình ngẩng đầu lên, cậu chợt thoáng thấy bên kia sông có một tiểu lang quân đang nói chuyện với ai đó. Thoạt nhìn trông giống Diệp tiểu nương tử, đến khi nhìn kỹ lại lại càng thấy giống Diệp tiểu nương tử hơn.
Lúc đó cậu chẳng kịp suy nghĩ gì nữa, đứng phắt dậy định chạy sang đối diện. Khổ nỗi cầu hẹp người đông, đợi đến khi cậu vất vả chen được sang bờ bên kia thì người kia đã biến mất từ lâu. Lúc này cậu lại bị chủ tiệm túm chặt không buông, đến khi thoát được mà đuổi theo thì ngay cả chiếc xe la của ông cụ cũng đã đi mất hút.
Thanh Đầu vừa nghi ngờ mình bị hoa mắt nhìn lầm người vừa cảm thấy không cam lòng. Cậu tiếp tục đi vòng quanh Tây Thị để tìm kiếm, hy vọng gặp lại để nhìn cho rõ. Cậu tìm mãi đến tận lúc mặt trời lặn, chợt thấy chợ sắp đóng cửa mà vẫn không thấy tăm hơi đâu thì đành nén nghi hoặc đầy bụng mà vội vàng chạy về nhà.