Chương 31
Cuối cùng Nhược Vũ vẫn quyết định đến chùa Từ Ân vẽ bức tranh cầu phúc đó.
Nhìn thái độ của Vũ Văn Trì thì lần này có vẻ gã thực sự chỉ muốn vẽ tranh chứ không phải có mưu đồ bất chính nào khác. Kẻ này không phải hạng lương thiện nhưng có lẽ gã thực sự dành nhiều tình cảm nhớ nhung người mẹ quá cố. Điều này nàng đã từng nghe phong thanh trong quãng thời gian ở phủ Quận vương năm xưa. Vả lại, việc cầu phúc đối với người đương thời là chuyện cực kỳ hệ trọng, chắc gã không đến mức vì trả thù mà làm điều bất kính với mẹ mình.
Trước đây khi theo ông nội chu du, mỗi khi cạn tiền lộ phí, ông nội sẽ dừng chân tìm việc làm để đổi lấy tiền, đa phần là vẽ tranh cho các viện tư nhân hoặc các gia đình giàu có. Những loại tranh công đức cầu phúc thế này nàng cũng đã vẽ không ít. Với kinh nghiệm của nàng, nếu có trợ thủ thì chỉ cần ba hai ngày là xong. Chỉ định nàng vẽ một mình thì khoảng bốn năm ngày chắc cũng đủ. Thà tốn vài ngày công sức qua đó vẽ cho xong, mọi chuyện cũng coi như kết thúc.
Nàng đi thẳng đến chùa Từ Ân.
Ngôi chùa này nằm ở phía Đông Nam Trường An, dân cư xung quanh thưa thớt, đa số là chùa chiền và đạo quán. Khuôn viên chùa cực kỳ rộng lớn, dựa vào một dải đồi cao nhất ở vùng này mà xây lên, trong chùa cây cối bao quanh, xanh mướt mát mắt. Nhược Vũ đến nơi đúng lúc giữa trưa, mặt trời đứng bóng, ngoài đường cát vàng mịt mù nhưng vào trong chùa lại nghe tiếng phạn kinh và chim chóc líu lo, bóng râm bao phủ, nhang khói vô cùng thịnh vượng. Ngoài cửa chen chúc các loại xe thơm ngựa quý đến từ phía Bắc thành, thiện nam tín nữ đi lại nườm nượp.
Người của phủ Quận vương đúng như lời Vũ Văn Trì nói đã đợi sẵn trong chùa. Đó chính là vị quản sự từng gặp ở trạm Lâm Cao, thái độ lại khác hẳn với Vũ Văn Trì, khá là lễ độ. Ông ta dẫn nàng đến trước các hang công đức phía sau chùa.
Cái gọi là hang công đức thực chất là một dãy các tháp đá được đục đẽo dưới chân núi phía sau. Phòng công đức của Quận vương phi quá cố nằm ở chính giữa, chiều dọc mười mấy bước, ngang khoảng một nửa, cao hơn một trượng. Nhưng nơi này trước đây chắc thuộc về nhà khác, vừa mới chuyển sang cho phủ Quận vương dùng, ba mặt tường đá và mái vòm đều đã được bào phẳng và quét vôi trắng, xóa sạch dấu vết của những bức họa cũ.
Ngày nay nhiều chùa chiền ở Trường An có cách làm ăn rất khéo, họ lần lượt khai khẩn các hang công đức thế này để cung cấp cho những người cúng dường đóng góp nhiều tiền nhang khói nhất. Với một ngôi chùa danh tiếng được sắc phong như Từ Ân tự, tín đồ kéo đến như mây, đua nhau cúng dường để khoe khoang quyền thế, vì vậy việc vị trí hang đổi chủ là chuyện thường tình.
Vị quản sự này Nhược Vũ cũng từng gặp trong vương phủ trước kia, ông ta mang họ của chủ nhân. Hôm tình cờ gặp nhau ngoài thành, bên đường đông người chắc ông ta không nhìn thấy nàng. Vừa rồi nhận ra Nhược Vũ, thần sắc ông ta có chút kinh ngạc nhưng nhanh chóng trở lại bình thường, cũng không nhắc nửa lời về chuyện cũ.
Nhược Vũ hỏi muốn vẽ gì, quản sự nói Thế tử không chỉ định cụ thể, bảo họa sư tự xem mà vẽ.
Nhược Vũ quan sát xung quanh, trong lòng nhanh chóng có ý tưởng. Nàng liệt kê một danh sách, bảo họ chuẩn bị những đồ dùng cần thiết để vẽ tranh, ngoài các loại bút vẽ, màu vẽ, còn có đèn chiếu sáng và thang giáo để leo cao. Quản sự sai người đi theo dùng giấy bút ghi lại từng món một, cuối cùng hỏi còn cần gì nữa không.
Phần nền thô của thạch thất đã hoàn thành giúp nàng đỡ được khối việc. Một thạch thất kích thước thế này, theo cách vẽ thông thường hiện nay, vẽ kín ba mặt tường cộng với mái vòm, một người làm việc cả ngày lẫn đêm thì cũng xấp xỉ bốn năm ngày như nàng dự tính ban đầu. Nghĩ đến việc đi lại nơi này bất tiện, buổi tối cũng phải làm việc nên nàng yêu cầu một chỗ ở lại.
Quản sự nói: “Tiểu lang quân yên tâm. Chuyện này không cần ngài nói, tôi đã bảo sư thầy chuẩn bị xong rồi.”
Chỗ ở ngay gần đó, là một gian thiền phòng dành cho các thí chủ thanh tu, chăn đệm đầy đủ, được quét dọn rất sạch sẽ.
Nhược Vũ quay về quán trọ, thu dọn sơ qua ít đồ đạc. Lúc sắp đi, nàng lưỡng lự một hồi, cuối cùng vẫn viết một tờ giấy nhắn đưa cho xá thừa (tức người quản lý quán trọ), nói nếu có ai đến tìm thì xin chuyển giúp, sau đó vội vã quay lại chùa Từ Ân. Ngay trong ngày hôm đó, nàng đã bắt đầu lao vào việc vẽ tranh. Hơn nữa tiến độ còn thuận lợi hơn nàng tưởng.
Nền thạch thất này được lót bằng hỗn hợp bùn keo cát mịn và vôi, tỉ lệ điều phối rất chuẩn. Sau khi trát lên tường không chỉ chắc chắn, có độ dính, không dễ bị nứt mà còn rất có lợi cho việc vẽ và lên màu, chắc hẳn là tác phẩm của những thợ thủ công lành nghề bậc nhất.
Không chỉ vậy, màu vẽ cũng là loại thượng phẩm hàng đầu. Xanh, đỏ thẫm, đỏ tươi, vàng, tím – năm sắc này là màu cơ bản, dưới mỗi màu cơ bản lại chia thành nhiều sắc độ chi tiết. Ví như sắc xanh ngọc, bên dưới có nào là Loa Đại từ Ba Tư, đá Khổng Tước, xanh bùn dát vàng, xanh Côn Lôn… tất cả đều được nghiền thành các hạt có kích thước khác nhau để thể hiện độ đậm nhạt khác nhau. Những màu khác như Chu Sa, Chì Trắng, Vân Mẫu đều có chất lượng thuần khiết và tinh xảo, hơn hẳn những loại màu nhuộm thông thường thô thiển mà nàng từng dùng trước kia.
Quả thực việc vẽ tranh lần này tuy khởi đầu chẳng mấy vui vẻ nhưng một khi đã dồn hết tâm trí vào công việc thì Nhược Vũ nhanh chóng gạt bỏ mọi tạp niệm, thời gian trôi đi nhanh thoăn thoắt.
Đến ngày thứ tư, nàng đã hoàn thành toàn bộ phần phác thảo bằng nét, bắt đầu công đoạn tô màu và loang màu. Sáng sớm, vị quản sự lại ghé qua một chuyến, nghe nàng nói khoảng một hai ngày nữa là có thể kết thúc thì tỏ vẻ ngạc nhiên, ông ta ngắm nhìn bức bích họa, buông một câu “vất vả cho ngài rồi” xong rời đi.
Tính khí khi vẽ tranh của Nhược Vũ được di truyền hoàn toàn từ ông nội, hễ bắt tay vào làm là quên ăn quên ngủ. Cả ngày hôm đó, ngoại trừ những lúc ăn uống và nghỉ ngơi ngắn ngủi, nàng vẽ liên tục. Sau khi trời tối, nàng thắp đuốc vẽ tiếp đến tận canh ba. Lúc này trần thạch thất và bức họa chính đã được tô màu xong, nàng cũng đã vừa đói vừa mệt, thực sự không còn sức để vẽ tiếp, bèn buông bút, xoa bóp cái cổ và cánh tay đang nhức mỏi.
Vẽ tường còn đỡ, vẽ trần là việc cực kỳ hao tổn thể lực. Phải đứng trên giàn giáo lơ lửng giữa không trung, cánh tay phải giơ cao giữ cho vững, cổ ngửa ra sau lâu ngày sẽ trở nên đau nhức vô cùng.
Mấy ngày nay, người hầu của phủ Quận vương đi theo cũng túc trực ngoài thạch thất để nàng sai bảo. Khoảng canh hai đêm nay, Nhược Vũ thấy cậu ta buồn ngủ, ngáp ngắn ngáp dài liên tục nên đã bảo cậu ta đi ngủ trước. Lúc này nàng ngồi xuống chiếc giường hẹp bên vách động tạm nghỉ, cầm chiếc bánh nướng ăn dở ban ngày, định ăn chung với nước trà lạnh lót dạ rồi mới về ngủ. Không ngờ vì quá mệt, vừa ngồi xuống, người vừa buông lỏng thì nàng đã tựa vào tường mà thiếp đi.
Chẳng biết qua bao lâu, trong cơn mơ màng, nàng chợt cảm thấy bên cạnh như có ai đó chạm vào mình, lập tức giật mình tỉnh giấc. Mở đôi mắt ngái ngủ ra, nàng nhìn thấy khuôn mặt đang ghé sát lại kia chính là Vũ Văn Trì.
Mặt gã đỏ gay vì hơi men giống như vừa uống rượu ở đâu về. Gã đang đứng trước mặt nàng, khom người xuống, tay chìa ra cầm một vật. Nhìn kỹ lại thì đó chính là nửa chiếc bánh nướng ăn dở của nàng.
“Ngươi làm gì vậy!”
Nhược Vũ không khỏi kinh hãi, bật dậy như lò xo.
Vũ Văn Trì như cầm phải hòn than nóng, lập tức vứt mẩu bánh xuống đất, đứng thẳng người dậy với vẻ khinh miệt: “Làm gì ư? Ta thấy ngươi ngủ rồi mà vẫn nắm khư khư nó như báu vật, nực cười đến cực điểm nên cầm vứt đi hộ ngươi thôi!”
Nhược Vũ chậm rãi thở hắt ra, xoa xoa trán, quay người bắt đầu thu dọn họa cụ trên bàn gỗ. Lúc này lại nghe Vũ Văn Trì nói từ phía sau: “Chẳng phải ở đây có người chờ sai bảo sao? Người đâu? Đêm hôm khuya khoắt, sao chỉ có một mình ngươi ngủ ở đây?”
Nhược Vũ nghe ra sự khó chịu trong giọng nói của gã. Nghĩ đến kẻ này vốn coi mạng người như cỏ rác, lại cực kỳ độc ác, người hạ nhân kia mấy ngày nay luôn túc trực từ sáng đến tối, chỉ có đêm nay mới đi ngủ sớm, nàng sợ gã lại phát điên nên quay lại nói: “Ta cho cậu ta đi trước rồi, vừa đi chưa lâu. Ta cũng định đi ngủ đây. Muộn thế này rồi, Thế tử đến đây làm gì?”
Đêm nay Vũ Văn Trì dự tiệc về, chợt nhớ tới lời quản sự nói ban ngày là tranh sắp xong rồi thì tâm trí dao động, cậy có chút men rượu bèn quay ngựa tới đây. Vì có giấy thông hành, dù gặp vài tốp Kim Ngô Vệ tuần đêm gã cũng không bị cản trở, đi thẳng tới chỗ này.
Nhược Vũ hỏi xong, gã không đáp mà rút một cây đuốc trên giá cầm trong tay, đưa sát vào vách thạch thất bắt đầu ngắm tranh.
Nhược Vũ không giục nữa, để mặc gã đi quanh một vòng. Thấy cuối cùng gã chỉ vào bức họa chính vừa mới tô màu xong đêm nay, hỏi: “Đây là mẹ ta sao?”
Nhược Vũ đã dùng hình tượng Ưu-bà-di để thể hiện Quận vương phi.
Trong Phật kinh, Ưu-bà-di chỉ những nữ tín đồ tu hành tại gia, họ hành thiện tích đức, lúc sinh thời hưởng phúc báo, sau khi viên tịch thoát khỏi nỗi khổ lục đạo luân hồi thì tiếp tục hưởng hương hỏa cúng dường của nhân gian.
Trong tranh, Quận vương phi chính là một vị Ưu-bà-di đang hưởng phúc báo như thế. Bà đội hoa quán, diện mạo từ bi trang nghiêm, khoác trên mình hoa phục, đeo chuỗi anh lạc, dây lụa thêu bay phấp phới, ngồi trên một cỗ tiên xa do thiên mã kéo, đang bay về thế giới Cực Lạc. Xung quanh bà là đông đảo các Phi thiên với nhiều tư thế khác nhau nghênh đón, các loài thú cưỡi mây hồng vây quanh, đó là khổng tước, phượng hoàng và thần lộc. Còn trên mái vòm thạch thất, nàng vẽ những tấm rèm rủ hoa nhẫn đông và ngàn vị Phật, dùng để ám chỉ một thế giới khác mà vị Ưu-bà-di đang hướng tới.
Toàn bộ thạch thất hiện lên một cảnh tượng tinh mỹ, lộng lẫy, nồng nhiệt, lại tràn đầy vẻ thần thánh trang nghiêm.
Nhược Vũ giải thích nội dung bức tranh cho gã nghe. Gã nghe xong ban đầu không nói gì, đăm đăm nhìn bức họa đẹp đẽ vô ngần khiến người ta không khỏi khao khát kia. Một hồi lâu sau, gã như bừng tỉnh khỏi bức tranh, hừ lạnh một tiếng: “Hành thiện sẽ có được phúc báo sao? Ngươi nói nghe mới hay làm sao!”
Nhược Vũ khó hiểu nhìn sang.
Gã quay đầu nhìn nàng: “Mẹ ta đúng là giống như lời ngươi nói, lúc sinh thời dốc lòng làm việc thiện, thế nhưng bà đã nhận lại được gì? Sự ghẻ lạnh của phụ vương ta! Ông ta có vô số sủng cơ, mẹ ta về quê sống một mình ông ta cũng chẳng màng! Chuyện đó thì thôi đi, ngươi có biết bà chết như thế nào không?”
Nhược Vũ chỉ biết Quận vương phi qua đời sớm, còn qua đời thế nào nàng không rõ. Loại chuyện riêng tư liên quan đến gia sự nhà người khác, nàng cũng không có ý định thăm dò. Nhưng không đợi nàng đáp lại, gã đã nghiến răng nói: “Chính là năm đó, phụ vương ta đi đón kẻ chạy về phía Tây kia…” Gã khựng lại một chút, “Nên nói là ‘tây hạnh’ (ý nói việc vua giá lâm ở phía tây) mới đúng!”
Gã dùng giọng điệu khinh miệt thốt ra hai chữ đó.
“Ông ta đi nghênh đón lão Hoàng đế, mang theo hết nhân mã, để kẻ thù cấu kết với người Tây Phồn đánh tới. Đáng lẽ mẹ ta đã không sao, có gia tướng của nhà ngoại ta tử thủ quan ải, thành trì nhất thời không thể bị phá. Chính là đám tiện dân như heo chó ngoài thành kia, chúng vì giữ mạng mình mà dẫn kẻ thù của nhà họ Vũ Văn ta đi đường mòn vòng qua núi vào, chém giết đến tận trong thành!”
Có lẽ vì men rượu bốc lên, Nhược Vũ thấy đôi mắt gã đỏ vằn lên, dưới ánh đuốc lập lòe những tia sáng oán hận.
“Bà cả đời chưa từng hại một ai! Thậm chí một con bọ cũng chưa từng giết!”
“Cứ thế mà chết. Mẹ ta cứ thế mà chết đấy.”
Cuối cùng gã dùng giọng điệu lạnh lẽo thốt ra câu này, nhưng biểu cảm lại giống như đang cười.
“Vì thế nên trong mắt ngươi, mạng người rẻ rúng như cỏ rác sao?” Nhược Vũ nhẹ giọng hỏi.
Vũ Văn Trì lại hừ một tiếng, bước tới cắm cây đuốc trong tay trở lại giá.
“Giết vài người thì đã sao?”
Gã vặn hỏi một câu, lại nhìn bức tranh trên vách động.
“Cái gì mà hành thiện tích đức, lục đạo luân hồi! Toàn là lời quỷ quái lừa bịp kẻ ngu muội! Ngươi nhìn cái thế gian này xem, có kẻ nào từng hành thiện mà được thiện báo không? Lại có kẻ nào vì tích đức mà lập được sự nghiệp? Những gì ta thấy chỉ là một lũ chó lợn vây quanh miếng xương thịt tranh giành mà thôi! Có điều, đám tiện dân thì tranh giành làm sao cho no bụng—”
Gã hung hăng tung một cú đá, hất văng mẩu bánh dưới đất đi, vụn bánh bắn ra tung tóe.
“Còn kẻ bề trên tranh nhau quyền sinh sát, cái thế đạo này chính là như thế!”
Gã nói xong hồi lâu vẫn không thấy Nhược Vũ đáp lời, bèn quay đầu liếc nhìn nàng: “Sao ngươi không nói gì?”
“Dưới ánh mặt trời ắt có bóng tối. Thế gian có người xấu, cũng có người tốt. Nhưng so ra, người tốt vẫn nhiều hơn.” Nhược Vũ nói. “Tôi rất đồng cảm với những gì lệnh đường đã trải qua, nhưng đó không thể là cái cớ để ngài phẫn chí hận đời.”
Vũ Văn Trì lại lạnh lùng cười nhạt, không đáp.
“Thế tử, nếu ngày đó không có người tốt biết báo đáp ân tình đã báo tin cho tôi, thì e là tôi cũng chẳng sống nổi đến giờ này để đứng đây. Ngài nói xem có phải không?”
Vũ Văn Trì khựng lại, nhìn nàng một cái, mặt lộ vẻ hơi gượng gạo. Nhược Vũ không nói thêm nữa, xoay người thu dọn bàn đạo cụ. Gã đứng đó nhìn theo bóng lưng nàng.
Thu dọn xong, Nhược Vũ quay lại: “Thế tử, không còn sớm nữa, tôi cũng mệt rồi, ngày mai còn phải vẽ tiếp nên tôi xin phép đi nghỉ, Thế tử cứ tự nhiên.”
Nàng hành lễ định rời đi, bỗng nghe gã nói từ phía sau: “Ngươi và tên họ Bùi kia có quan hệ thế nào?”
Bước chân Nhược Vũ khựng lại ngay tức khắc. Nàng quay đầu, thấy vẻ mặt gã không còn phẫn nộ như ban nãy mà chuyển sang bộ dạng thâm sâu khó lường, đôi mắt nhìn nàng chằm chằm.
“Ý ngài là sao? Tôi và ngài ấy thì có quan hệ gì được?” Nhược Vũ lập tức dựng lên một tầng cảnh giác cao độ trong lòng, nhưng ngoài mặt vẫn đáp như không có chuyện gì.
Vũ Văn Trì tiến về phía nàng.
“Vậy sao? Chẳng phải hai người từng có hôn ước à, quan hệ không đơn giản nhỉ?” Gã dừng lại trước mặt nàng, thong thả nói như đang thưởng thức một trò vui.
***
Cả ngày hôm đó Thừa Bình đều trực ở phủ Tả Vệ tướng, đến tối mịt mới quay về Tiến tấu viện. Y xuống ngựa, quăng dây cương cho tùy tùng, nặng trĩu tâm tư bước vào trong. Đám tỳ thiếp đã đợi y từ lâu, ai nấy đều tươi cười ra đón.
Cơm nước ở tướng phủ y ăn không quen, giờ này chắc chắn là đói đến mức bụng dán vào lưng rồi. Bọn họ đã bảo đầu bếp chuẩn bị một con cừu non y thích nhất, lúc này đang gác trên than hồng nướng kỹ. Lớp da giòn rụm bao bọc phần thịt mềm thơm, mỡ cừu vàng óng chảy ra xèo xèo, trên tảng thịt còn cắm một con dao bạc nhỏ.
Thường ngày vào lúc này, sau khi thay đồ y sẽ ngồi trước bàn ăn, dùng dao cắt từng dải thịt, chấm vào chiếc đĩa vàng ròng chạm vân sen tám cánh. Trong đĩa là hỗn hợp tương tàu, muối tiêu, đầu hành và mù tạt, hương thơm nồng nàn. Thịt quyện đầy nước xốt, cuộn cùng miếng bánh nướng nóng hổi vừa ra lò thấm đẫm mỡ cừu, khiến người ta không kìm được mà thèm thuồng. Sau khi đánh chén no nê, sẽ có người bưng ra một đĩa anh đào trong vắt được ướp trong đá từ đêm qua để y tráng miệng bằng thứ quả thanh mát ngọt ngào ấy. Ăn no xong trời cũng đã tối, y sẽ gối đầu lên đùi một tỳ nữ xinh đẹp nhất mà sủng ái, chìm vào giấc ngủ trong làn gió thơm tỏa ra từ chiếc quạt tẩm hương trầm trên tay nàng, trải qua một đêm dài tiêu diêu trong mộng đẹp.
Thế nhưng lúc này lại khác hẳn mọi khi. Y đuổi hết đám tỳ nữ đi, không cho phép ai quấy rầy. Y bực dọc giật phăng chiếc khăn trùm đầu của nam tử Thánh triều đeo mãi vẫn không thấy quen, cởi thắt lưng, dưới ánh mắt lo lắng của họ mà đi thẳng về tẩm đường nằm xuống. Nhắm mắt một lát, y lại mở ra, lần này cuối cùng cũng đã hạ quyết tâm.
Y sải bước đi ra, định gọi người thay đồ chuẩn bị ngựa để ra ngoài lần nữa thì chợt khựng lại.
Bùi Tiêu Nguyên đang đứng giữa sảnh, khẽ nói chuyện với đám tỳ nữ. Thấy y xuất hiện, Bùi Tiêu Nguyên nhìn sang, mỉm cười gật đầu.
“A Sử Na, ta còn đang nghĩ xem ngươi định giận ta bao nhiêu ngày. Lần này lại quá ba ngày rồi đấy. Ngươi không đến chỗ ta thì ta đến tìm ngươi vậy.” Hắn cười nói, chỉ vào hai vò rượu mang theo. “Đây là Quế Hoa Tinh, loại rượu Trường An ngươi thích nhất. Vừa hay bọn họ nói có thịt cừu nướng, sao không mượn rượu cho ta cùng ăn một bữa no nê?”
Thừa Bình ngẩn người một lát, bỗng toét miệng cười, sải bước tiến lên, “đùng” một cái, lại đấm một cú thật mạnh vào ngực Bùi Tiêu Nguyên.
“Ai bảo ta giận! Vừa nãy ta cũng định đến chỗ ngươi đây!” Y tự tay ôm lấy rượu, quay đầu quát hạ nhân chuẩn bị tiệc.
Đám tỳ nữ vội vàng thắp đuốc tại một thủy các lộ thiên bên hồ bích trì ở hậu viện, trải thảm đất, bày bàn ăn, khiêng cừu nướng ra. Hai người tháo ủng, tùy ý ngồi xếp bằng trên thảm, vừa uống rượu Quế Hoa Tinh thơm nồng vừa dùng dao cắt thịt cừu.
Sức ăn của cả hai đều không nhỏ, lại đang lúc bụng đói, chẳng mấy chốc đã chén sạch con cừu non như gió cuốn mây tan. Rửa tay xong, họ dùng khăn trắng lau khô, tỳ nữ dâng lên đĩa quả trám cống từ Lĩnh Nam ngâm đinh hương.
Bùi Tiêu Nguyên nhấm nháp một quả, một tay gác tùy ý, duỗi thẳng chân, thong thả tựa nửa người vào chiếc kỷ phía sau. Đối diện, Thừa Bình vẫn chưa thấy đã, vẫn đang uống từng chén rượu một.
“A Sử Na, ngày đó là ta không đúng, khiến ngươi…” Bùi Tiêu Nguyên nhìn y mở lời.
“Ngươi không có gì là không đúng!” Thừa Bình ngắt lời. “Là ta không đúng! Rõ ràng ngươi đã dặn đừng đi làm phiền nàng ấy, ta lại không nhịn được quay về tìm! Suýt chút nữa làm hại nàng ấy rồi. Đáng lẽ ta nên đợi thêm, đợi nàng ấy ra khỏi cung.”
Dần dà trăng đã lên giữa trời. Thừa Bình đã say khướt nhưng có vẻ vẫn chưa thỏa chí. Y ném chiếc chén bạc chạm vân nho đi, ôm cả vò rượu lên, ngửa cổ dốc cạn chỗ rượu còn lại. Y vung mạnh cánh tay, vò rượu không bay vút đi, vẽ một đường vòng cung trên bầu trời đêm rồi “tùm” một tiếng, chìm xuống giữa mặt hồ đầy lá sen xanh biếc. Đám cá chép gấm béo tốt đang sủi tăm gần đó giật mình nhảy vọt lên, đuôi cá quật vào mặt nước phát ra những tiếng bành bạch giòn giã.
“Thống khoái! Rượu ngon! Lâu lắm rồi mới sảng khoái thế này!”
Thừa Bình cười lớn, đứng dậy từ thảm đất nhưng người lại lảo đảo, rồi lại ngồi phịch xuống đất.
“Ta nói cho ngươi biết, ta quay về tìm nàng ấy là muốn giải thích cho rõ ràng, rằng những lời hỗn xược nghe được từ miệng ta ở phủ Thái thú hôm đó hoàn toàn là lỗi của ta, không liên quan gì đến ngươi cả. Nhưng ta không ngờ tên súc sinh nhà họ Vũ Văn kia cũng bám theo. Ngươi có biết câu đầu tiên gã mở miệng nói là gì không?”
Mặt y đỏ bừng, lúc này đến ngồi cũng không vững, cả người nghiêng sang một bên.
“Gã dám nói là ‘trai đơn gái chiếc’!” Y nấc lên một cái vì hơi rượu.
Ánh mắt Bùi Tiêu Nguyên khẽ động, hắn thu tay lại từ chiếc kỷ, từ từ ngồi thẳng người dậy.
“Chắc chắn là gã đã nghe lén lời ta nói với nàng ấy, biết được nàng ấy là nữ nhi rồi! Lúc đó ta chỉ muốn giết quách gã đi nên nhất thời nóng giận không nghĩ gì được nữa… Ngươi đừng trách ta…”
Giọng nói của Thừa Bình dần trở nên mơ hồ, rồi loạng choạng ngã xuống thảm đất, say sưa ngủ thiếp đi.
“… Bùi nhị… ta cũng biết… chúng ta không còn là thiếu niên như xưa, phải gánh vác việc đời… nhưng tính ta là thế… ai tốt với ta, ta có thể lột da xẻ thịt để báo đáp… kẻ nào là thù, ta sẽ móc tim gan, đem ra làm mồi nhắm rượu…”
Y nhắm nghiền mắt, miệng lẩm bẩm những lời mê sảng rồi dần dần nằm im, hoàn toàn chìm vào giấc ngủ.
Bùi Tiêu Nguyên lặng lẽ nhìn y một lát, vẫy tay gọi đám tỳ nữ đang đứng hầu đằng xa lại, bảo họ đắp chăn cho Thừa Bình. Sau đó hắn đứng dậy khỏi thảm, xỏ ủng rồi rời đi.
Đêm ấy hắn cưỡi ngựa trở về nơi ở, trên đường đi chỉ thấy tâm thần xao động, lòng dạ chẳng yên.
Ngày Thanh Đầu đưa thuốc trở về đã thú nhận với hắn chuyện cậu đã kể với nàng việc hắn đã khổ công tìm kiếm nàng ra sao. Điều này khiến sâu thẳm trong lòng hắn cảm thấy một nỗi hổ thẹn khó tả, lúc đó hắn đã mắng nhiếc cậu bé một trận tơi bời, không cho phép cậu sang bên đó nữa. Trong thâm tâm hắn cũng từng muốn tìm nàng để giải thích một phen, nhưng trước sau vẫn không hạ được quyết tâm.
Ngày thứ hai sau khi vết thương ở chân nàng lành, nàng đã phụng mệnh đến chùa Từ Ân vẽ tranh cầu phúc cho Tây Bình Quận vương phi. Ngay ngày đầu tiên hắn đã biết chuyện, vì để thuận tiện cho việc vẽ tranh, nàng đã ngủ lại trong chùa nhiều đêm liên tục.
Đối với hành động của con trai nhà họ Vũ Văn khi chỉ đích danh nàng vẽ tranh, hắn cũng cảm thấy kỳ lạ, từng phái thân tín đến dò xét. Được báo lại rằng quả thực nàng đang vẽ tranh chứ không có chuyện gì khác nên hắn mới dần gác chuyện đó sang một bên. Có lẽ vị Thế tử kia tình cờ biết được họa kỹ của nàng xuất chúng nên điểm danh bắt nàng làm việc, điều đó cũng không phải là không thể.
Nhưng đêm nay những lời thốt ra từ miệng Thừa Bình khiến hắn đột nhiên kinh hãi, cảm giác như có gai đâm sau lưng. Xâu chuỗi lại với những lời lão ông đưa nước ở Tây Sơn từng nhắc đến: ngày đầu tiên nàng đến Trường An, ở ngoài cửa Khai Viễn suýt nữa bị một người cưỡi ngựa đâm trúng, kẻ đó chính là vị Thế tử này.
Mọi chuyện không thể đơn giản như vậy được.
Nếu hai người bọn họ là người quen cũ thì cũng thôi. Chỉ sợ vị Thế tử kia đã biết nàng là nữ nhi, lòng dạ khó lường, lỡ như có ý đồ bất lợi với nàng thì sao.
Đang mải suy tư, hắn đã về đến chỗ ở lúc nào không hay.
Thanh Đầu biết mình hôm đó lỡ miệng chọc giận chủ nhân, sợ bị đuổi đi nên mấy ngày nay cứ khép na khép nép, giờ này vẫn đang thành thật ngồi xổm ở cửa chờ đợi. Thấy hắn cưỡi ngựa trở về, cậu vội vàng đứng dậy dắt ngựa, dọn dẹp ngựa xong quay lại thấy chủ nhân vẫn đứng trong sân như đang mang nặng tâm sự, bèn nịnh nọt tiến lên hỏi xem có muốn rửa mặt nghỉ ngơi không.
Đúng là không còn sớm nữa. Khó khăn lắm đêm nay mới có chút thời gian rảnh, hắn tranh thủ đi thăm Thừa Bình, giờ quay về đáng lẽ nên đi ngủ.
Hắn thu lại tâm trí, tiếp tục đi vào trong.
Thanh Đầu bám sát gót, miệng không ngừng kể công: “Lang quân, dạo này em học tiếng Hồ ngày càng nhiều, nghe không còn thấy líu lô nữa rồi. Sau này biết đâu có thể giúp được việc cho Lang quân…”
Cho nên nghìn vạn lần đừng đuổi tôi đi, cậu thầm khấn trong lòng. Tuy chữ nghĩa không biết được mấy chữ, cũng lười học, nhưng cậu thực sự có thiên bẩm về ngôn ngữ. Hồi ở Cam Lương đã học được vài câu đơn giản, gần đây cùng bà vú người Hồ trong nhà múa tay múa chân “ông nói gà bà nói vịt” nên tiến bộ thần tốc.
Tự khen mình xong, thấy chủ nhân vẫn không có phản ứng gì, cậu ta vừa nhìn sắc mặt hắn vừa cẩn thận nói: “Nghe bà vú kể là hôm đó bà ấy quay về, Diệp tiểu lang quân đã vẽ hai bức tranh, hỏi Lang quân khi nào thì về. Biết ngài về muộn thì trông nàng ấy có vẻ hơi thất vọng.”
Bùi Tiêu Nguyên dừng bước, quay sang nhìn Thanh Đầu.
“Có lẽ nàng ấy tìm Lang quân có chuyện muốn nói?” Thanh Đầu đưa ra suy đoán của mình, rồi ngay sau đó vội vàng xua tay, “Chỉ là em đoán mò thôi! Nếu có sai, Lang quân ngài đừng mắng em nữa nhé.”
Bùi Tiêu Nguyên đứng lặng đi, một lát sau, hắn đột ngột xoay người sải bước đi ra ngoài.
“Lang quân! Không còn sớm nữa, ngài đi đâu vậy?”
Bùi Tiêu Nguyên không đáp, tự mình dắt ngựa ra khỏi viện, nhảy lên lưng ngựa, thúc chân cho ngựa chạy, lao thẳng vào màn đêm mịt mù trên đại lộ Trường An.