Chương 31
Chuyến bay CX334 của Cathay Pacific ổn định ở độ cao vạn mét, bên ngoài cửa sổ là lớp mây dày đặc như bông. Thiệu Chi Oanh đắp chiếc chăn mỏng, nhắm mắt lại. Tiếng gầm rú đều đặn của động cơ trở thành thứ tiếng ồn trắng vây quanh, không làm cô khó chịu mà trái lại còn đưa cô vào giấc ngủ sâu.
Lời mời từ giải Tchaikovsky đến quá bất ngờ, đợt tập huấn của Clara lại diễn ra đúng lúc, nên Thiệu Chi Oanh chỉ kịp nghỉ ngơi hai ngày đã một mình bay đến Bắc Kinh. Vì đặt vé muộn, các chuyến bay giờ đẹp đều hết chỗ, cô đành chọn chuyến bay sớm này. Vốn không quen dậy sớm, cả người cô rã rời và buồn ngủ.
Giấc ngủ ban đầu khá thư thái, cho đến khi một cảnh tượng ẩm ướt và ngột ngạt tái hiện trong đại não, đôi mày cô khẽ nhíu lại, rơi vào giấc mộng cũ.
Mùa hè ở Hồng Kông hai mươi năm trước, tại những khu nhà cũ vùng Quan Đường (Kwun Tong), không khí luôn nồng nặc mùi gỗ mục và ẩm mốc. Ông ngoại uống thuốc Bắc quanh năm, vị thuốc đắng ngắt bay ra từ bếp lò, lan tỏa khắp căn nhà chật hẹp.
Thiệu Chi Oanh hơn hai tuổi ngồi trên con ngựa gỗ nhỏ do tự tay ông ngoại đóng, đôi chân mập mạp đung đưa, gương mặt ngây thơ chưa biết buồn lo là gì. Giữa cái nóng oi bức, từ trong bếp vang lên tiếng cãi vã của mẹ và bà ngoại, từ nhỏ nhẹ chuyển sang gay gắt, cho đến khi tiếng bát đĩa vỡ tan tành vang lên.
Lê Phạn bước nhanh ra khỏi bếp, rẽ vào phòng ngủ phụ nhỏ hẹp, dứt khoát kéo chiếc vali kẹt giữa tủ quần áo cũ và chiếc giường đơn ra, mở toang nó. Vì phòng quá chật, diện tích sàn không đủ, chiếc vali chỉ có thể mở hé một góc 70-80 độ, bà cũng chẳng màng, cứ thế vơ hết quần áo, trang sức, mỹ phẩm trên giường và bàn ném vào trong.
Giọng nói hơi khàn của bà ngoại đuổi theo sau lưng, mang theo âm hưởng của một người lam lũ nơi sạp rau nhiều năm: “A Phạn, làm người không thể chỉ biết nghĩ cho mình. Bé con còn nhỏ thế này, con làm mẹ thì không được cứ thế vứt bỏ nó, mặc kệ không quan tâm. Sang năm nó lên mẫu giáo rồi, phải qua sát hạch mới được học, người ta còn xét thân phận, nghề nghiệp cha mẹ, còn phải học tiếng Anh... Ta với ba con sống từng này tuổi chỉ biết bày sạp bán rau, sao dạy dỗ nó tốt được...”
Khi đó Thiệu Chi Oanh mới hơn hai tuổi, đang tuổi tập nói. Cô không hiểu hết những lời tâm huyết của bà, chỉ biết mình nghe thấy tên gọi ở nhà của mình: “Muội Trư”. Bà ngoại luôn gọi cô như thế, một cách gọi thân thương dành cho những bé gái ở Hồng Kông.
Cô bé nghe bà gọi tên mình liền leo xuống khỏi ngựa gỗ, lon ton chạy đến cửa phòng ngủ, bàn tay mũm mĩm vịn vào khung cửa, tò mò nhìn vào trong.
Lê Phạn hiếm khi từ Bắc Kinh về Hồng Kông thăm người thân. Dù chỉ ở chung vài ngày, nhưng cô bé biết đây là mẹ mình, và cô rất thích mẹ. Lê Phạn thực sự là người phụ nữ đẹp nhất cô từng thấy. Vẻ đẹp của bà sinh ra từ những năm 70, như một viên hổ phách được Hồng Kông nuôi dưỡng, kết tinh sự rực rỡ và kiêu hãnh của thời đại đó. Bà mang vẻ đẹp Hồng Kông cổ điển: ngũ quan lộng lẫy, môi đỏ đậm, tóc xoăn bồng bềnh như sóng biển. Đó không phải kiểu đẹp mỏng manh dễ vỡ, mà là một sức sống căng tràn, phóng khoáng.
Bà thường mặc những chiếc váy sát nách màu đỏ tươi, chất liệu ôm sát tôn lên vòng eo thon gọn. Móng tay móng chân đều sơn màu đỏ thẫm. Mỗi khi bà chuyển động, tà váy như một ngọn lửa trôi lững lờ, làn da trắng như tuyết, đẹp hơn cả những minh tinh trên áp phích điện ảnh thời đó.
Mắt Lê Phạn rưng rưng, nhưng giọng nói lại đầy vẻ mất kiên nhẫn và xa cách: “Con đã có cuộc sống riêng của mình, bên Bắc Kinh không thể thiếu con được. Để con bé ở với ba mẹ con rất yên tâm... Mẹ đừng lo, mỗi tháng con sẽ gửi tiền về.”
Bà ngoại run lên vì giận, vừa lau nước mắt vừa lắc đầu: “Sao ta lại sinh ra đứa con gái như con cơ chứ, sinh con ra rồi lại bỏ mặc, không chịu làm tròn trách nhiệm người mẹ gì cả.”
Ông ngoại ngồi trên chiếc ghế gỗ hương cũ kỹ, nghe vậy cũng chỉ thở dài liên tục, thỉnh thoảng lại ho nặng nhọc, hơi thở đục ngầu.
Lê Phạn dường như không thể chịu đựng thêm một giây nào ở ngôi nhà này nữa. Bà vội vàng khép vali, kéo đi thẳng ra ngoài, nhưng lại bị bàn tay nhỏ mềm mại của cô bé ôm chặt lấy đầu gối. Bà ngỡ ngàng cúi xuống, đập vào mắt là khuôn mặt tròn trịa ngoan ngoãn của con gái, đôi mắt to đen láy ướt át nhìn bà, rồi bỗng nhiên “òa” một tiếng khóc nức nở:
“Oa... Mami đừng đi, mami đừng bỏ bà ngoại, đừng bỏ Bé Heo mà. Bé Heo thích mami lắm, mami là người đẹp nhất thế giới...”
Tiếng khóc của đứa trẻ hai tuổi lanh lảnh, từng chữ như xát muối vào lòng. Lúc đó cô bé mới tập nói, phần lớn chỉ nói được từ rời rạc, nhưng để giữ mẹ lại, cô đã cố gắng nói trọn vẹn cả một câu dài như thế lần đầu tiên trong đời.
Lê Phạn rơi lệ, nhưng bà chỉ vội vã dùng mu bàn tay lau đi, lạnh lùng đẩy thân hình nhỏ bé của con gái ra, bước đôi chân dài trên đôi giày cao gót đi thẳng, không một lần ngoảnh đầu lại.
Cảnh tượng trong mơ kết thúc ở đó.
Thiệu Chi Oanh chìm sâu vào ghế máy bay, cô biết mình đang mơ nhưng như bị bóng đè, không tài nào tỉnh lại được. Cô bị buộc phải rơi vào một đoạn phim lặp lại: Đứa trẻ nhỏ theo bản năng lảo đảo ôm lấy đôi chân đi tất lụa của mẹ, cảm giác mềm mại và lạnh lẽo đó đọng lại mãi nơi gò má. Cô bé nức nở cầu xin: “Mami, đừng đi...” Đáp lại chỉ là một cái đẩy quyết tuyệt đầy bực dọc. Lực đẩy không mạnh, nhưng đủ để đứa trẻ ngã ngồi bệt xuống đất.
Cánh cửa gỗ cũ kỹ “rầm” một tiếng đóng sầm lại, ngăn cách bóng hình người mẹ, chia cắt cuộc đời của đứa trẻ và người mẹ thành hai thế giới hoàn toàn khác biệt. Tiếng khóc non nớt trong căn phòng chật hẹp ẩm ướt vang lên lanh lảnh, trở thành nốt kết đau đớn nhất của thước phim đó.
“...Thưa cô, xin lỗi vì đã làm phiền, chuyến bay sắp hạ cánh xuống sân bay quốc tế Thủ đô, phiền cô dựng thẳng lưng ghế ạ.”
Giọng nói dịu dàng của tiếp viên hàng không cuối cùng cũng đánh thức cô khỏi cơn ác mộng. Thiệu Chi Oanh bừng tỉnh, cảm giác đan xen giữa thực và ảo khiến cô ngẩn ngơ giây lát. Im lặng hồi lâu, cô vặn chai nước khoáng uống một ngụm, dòng nước mát lạnh trôi xuống cổ họng giúp cô lấy lại bình tĩnh. Cô nhìn ra ngoài cửa sổ.
Bầu trời Bắc Kinh tháng mười xanh trong veo, máy bay đang hạ cánh, có thể thấy rõ vùng đất rộng lớn nhuộm sắc vàng óng của mùa thu. Thiệu Chi Oanh xuống máy bay, đẩy xe hành lý trong nhà ga, tâm trạng khá thoải mái. Những chuyện cũ không đủ để níu chân cô lâu, việc đầu tiên sau khi hạ cánh là gửi tin nhắn báo bình an cho Tống Hạc Niên.
Dù kế hoạch tập huấn có hơi gấp gáp so với thỏa thuận thử hôn ba tháng trước đó, nhưng kể từ đêm hôm kia... sau khi anh tặng hoa và cùng cô xem pháo hoa, mối quan hệ dường như đã có một bước tiến thầm lặng nhưng đầy tinh tế. Khi cô đề nghị đến Bắc Kinh chuẩn bị thi, Tống Hạc Niên chỉ gật đầu, không hề phản đối. Cô nghĩ, ba tháng thực ra cũng chỉ là một con số, nếu đã xác định liên hôn thì cũng không nhất thiết phải cưới đúng ngày lành đó, chọn một ngày khác cả hai đều thích cũng không tệ.
Chuyến bay ba tiếng rưỡi hạ cánh đúng lúc chính ngọ. Cô đã ăn chút đồ ăn trên máy bay nên giờ không đói, chỉ mua một ly cà phê rồi định về khách sạn nhận phòng. Bước ra khỏi cửa tự động của sân bay, một luồng gió khô ráo, hơi se lạnh mang theo mùi bụi bặm đặc trưng của phương Bắc ùa tới, khác hẳn với gió biển ẩm ướt và mặn mòi của Hồng Kông.
Khô, không khí thực sự rất khô, da mặt cô lập tức cảm thấy hơi căng. Lạnh cũng rất trực diện. Dù là buổi trưa, lúc nhiệt độ cao nhất ngày cũng chỉ khoảng 13-14 độ. Thiệu Chi Oanh vội cài cúc áo măng tô, thầm nghĩ về khách sạn phải thay bộ đồ dày hơn.
Cô ở tại khách sạn Grand Hyatt trên đường Trường An. Chọn chỗ này vì nó rất gần Tử Cấm Thành, có thể đi bộ tới, cô muốn dành thời gian đi dạo quanh đó. Nơi tập huấn của Clara nằm trong Học viện Âm nhạc, cách đó khoảng 5km, cũng không xa. Hôm nay chưa có lịch làm việc, cả nhóm hẹn gặp nhau vào trưa mai. Tối nay cô đã có hẹn ăn cơm với bạn.
Hồi ở Berlin cô có một người bạn cùng phòng khá thân tên là Vưu Tuyết Thuần, vốn là người Bắc Kinh chính gốc. Tuyết Thuần về nước trước Thiệu Chi Oanh vài tháng, cả hai đã nửa năm không gặp. Biết cô đến Bắc Kinh, Vưu Tuyết Thuần dĩ nhiên đã đặt lịch hẹn ăn từ sớm.
Đêm qua Thiệu Chi Oanh chỉ ngủ được ba tiếng, trên máy bay lại gặp ác mộng nên hơi mệt, cô quyết định ngủ bù một lát tại khách sạn. Khi tỉnh dậy, cô cảm thấy mũi và da mặt khô khốc, thầm hối hận vì quên mang theo kem dưỡng ẩm loại đậm đặc, định bụng sau khi ăn tối sẽ đi mua.
....
Hai người hẹn nhau tại nhà hàng Đàm Gia Thái trong khách sạn Beijing Hotel. Vưu Tuyết Thuần đặc biệt chọn vị trí này, số 33 đường Đông Trường An, chỉ cách Grand Hyatt khoảng năm sáu trăm mét đi bộ.
Thiệu Chi Oanh đến sớm hơn một chút, cô được phục vụ dẫn vào chỗ ngồi đã đặt trước. Lật xem thực đơn xong, cô lặng lẽ quan sát không gian nhà hàng. Đàm Gia Thái vốn là ẩm thực của quan lại đời nhà Thanh, đến thời Dân quốc thường được dùng để tiếp đãi các yếu nhân, sau này được đưa vào khách sạn Beijing Hotel và được bảo tồn cẩn thận. Ngay khi bước vào đã cảm nhận được một bề dày lịch sử. Đẩy cánh cửa màu xanh coban, đi xuyên qua bức tường đỏ ngói vàng, tông màu chủ đạo là màu nâu trầm tĩnh điểm xuyết đồng thau, những bức ảnh chụp chung với người nổi tiếng treo kín tường tạo nên phong thái của một nhà hàng chuyên tiếp khách quốc tế.
Vưu Tuyết Thuần cũng nhanh chóng đến nơi, vừa đẩy cửa đã thấy cô từ xa, ánh mắt sáng bừng lên. Thiệu Chi Oanh vốn không sợ lạnh, nhưng đêm Bắc Kinh nhiệt độ xuống thấp, sợ cảm lạnh nên cô mặc một chiếc áo măng tô cashmere màu trắng, cổ hoa bào, cổ tay viền một lớp lông trắng muốt. Cô ngồi đó tĩnh lặng, thanh tao mà linh động, trông như một chú mèo Ragdoll xinh đẹp.
“Tớ ra khỏi nhà sớm nửa tiếng mà không ngờ vẫn để cậu đến trước, cái giao thông này đúng là...” Giọng Vưu Tuyết Thuần lanh lảnh vang lên. Thiệu Chi Oanh mỉm cười: “Giờ cao điểm tắc đường là bình thường mà, tớ cũng vừa mới tới thôi.”
Cả hai ngồi xuống cạnh cửa sổ, nhìn ra dòng xe cộ tấp nập trên đường Đông Trường An. Vưu Tuyết Thuần tính tình thẳng thắn, dễ làm mất lòng người khác, nhưng không hiểu sao lại rất hợp với vẻ băng thanh ngọc khiết của Thiệu Chi Oanh. Tuy không hẳn là tri kỷ nhưng cũng gần như thế, họ đã ở cùng nhau hai năm, chuyện gì cũng kể cho nhau nghe.
Nửa năm không gặp nhưng không hề có cảm giác xa lạ, vừa ngồi xuống là bắt đầu chuyện trò không dứt. Ban đầu là chuyện công việc, cuộc sống, rồi đến sự khác biệt khí hậu giữa Bắc Kinh, Hồng Kông và Berlin. Vưu Tuyết Thuần cũng là nghệ sĩ cello, về nước được bố mẹ hỗ trợ mở một studio riêng, thỉnh thoảng dạy trẻ con học đàn, thu nhập không quá cao nhưng sống tùy hứng, thoải mái. Thiệu Chi Oanh hiểu tính bạn, gia đình cô ấy khá giả, có nhiều bất động sản và một căn tứ hợp viện nhỏ. Là con một được nuông chiều từ bé nên Vưu Tuyết Thuần không phải kiểu người chịu thương chịu khó. Vì đam mê cello nên những năm du học đã nếm đủ khổ cực rồi, giờ về nước cô chỉ muốn sống một cuộc đời bình lặng.
“Tốt mà, cậu nói năng lưu loát, kiến thức vững, rất hợp dạy học. Cuộc sống hiện tại rất hợp với cậu.”
Vưu Tuyết Thuần múc một thìa súp cá, khẽ thở dài: “Nói thì vậy, nhưng bạn trai tớ... ây da.” Thiệu Chi Oanh nhận ra nỗi ưu phiền của bạn, đặt đũa xuống chăm chú lắng nghe.
“Anh ấy có vẻ quyết tâm ở lại Berlin, chớp mắt cái đã yêu xa nửa năm rồi,” Vưu Tuyết Thuần nghịch chiếc thìa, vẻ lanh lẹ biến mất, thay vào đó là sự muộn phiền, “Ban đầu hứa là sẽ cùng tớ về Bắc Kinh phát triển, nhưng anh ấy hỏi thăm bạn bè thì thấy ở đây khó tìm được dàn nhạc tốt nên lại đổi ý.”
Thiệu Chi Oanh trầm ngâm một lát. Bạn trai Tuyết Thuần là Thương Kỳ, một nghệ sĩ kèn Horn, cô cũng từng tiếp xúc qua khi ba người đi ăn lẩu cùng nhau. Anh chàng đó không tệ, tính cách hơi tròn trịa giống như cây kèn anh ta chơi, có chút phân vân, thiếu quyết đoán. Tuyết Thuần thì tính nóng như lửa, nên lại thích kiểu con trai hiền lành như thế, hai người bù trừ cho nhau, Thương Kỳ thường rất nghe lời Tuyết Thuần. Lần này anh ta kiên quyết ở lại Berlin, chắc hẳn là vì cân nhắc tương lai thực tế.
Thiệu Chi Oanh thận trọng lên tiếng: “Thương Kỳ chơi kèn Horn, ở trong nước cơ hội đúng là ít hơn nhiều. Các dàn nhạc tốt đều đã đủ người, nhu cầu học kèn này cũng ít, anh ấy chắc chắn không cố ý làm cậu giận đâu.”
Vưu Tuyết Thuần bĩu môi: “Thương Kỳ cũng nói y như cậu. Tớ hiểu chứ, anh ấy ở lại Đức chắc chắn là muốn vào Dàn nhạc Berlin Philharmonic hoặc Munich Philharmonic, tớ cũng không muốn làm lỡ tương lai của anh ấy. Nhưng tớ thực sự không muốn định cư nước ngoài. Cậu biết mà, tớ là con một, tớ muốn ở gần chăm sóc bố mẹ khi họ già đi...”
Thiệu Chi Oanh đương nhiên thiên vị bạn mình. Tuyết Thuần lớn lên trong sự bao bọc của ba mẹ, sự đền đáp duy nhất cô có thể làm là sự bầu bạn lúc họ về già. Nhưng Thương Kỳ không có điều kiện tốt như cô, nên lo lắng nhiều hơn là điều dễ hiểu.
“Tớ hiểu, ai cũng có nỗi khổ riêng. Chỉ có thể nói là mới bắt đầu yêu xa, cố gắng thấu hiểu nhau, có mâu thuẫn gì thì phải giao tiếp ngay.”
Vưu Tuyết Thuần vừa về Bắc Kinh thì bận rộn gặp gỡ bạn cũ nên cảm xúc còn ổn định, giờ cuộc sống vào quỹ đạo, sự cô đơn bắt đầu xâm chiếm. “Yêu xa đã đành, đây còn là yêu khác quốc gia, cách nhau cả đại dương, lệch múi giờ thôi đã đủ mệt rồi. À đúng rồi,” cô bỗng nhớ ra điều gì đó, “Chi Oanh, cậu với Tống Kỳ Niên trước đây cũng hay yêu xa mà, lúc đó hai người...”
Sắc mặt Vưu Tuyết Thuần bỗng thay đổi, giọng nói im bặt. Cô vội vã vỗ nhẹ vào miệng mình: “Xin lỗi, xin lỗi... tớ quên mất... đúng là cái mồm hại cái thân, tớ xin lỗi nhé.”
Thiệu Chi Oanh hơi sững lại một chút, nhưng nhanh chóng mỉm cười: “Không sao, chuyện qua cả rồi. Thế nên tớ mới nói yêu xa không phải là một trạng thái tốt. Nếu cậu muốn có tương lai với Thương Kỳ thì phải bao dung và giao tiếp nhiều hơn.”
Nếu là trước đây, cô chắc chắn sẽ nói yêu xa chẳng phải vấn đề, nếu có vấn đề thì là do con người. Nhưng sau khi trải qua nhiều chuyện, cô không còn nghĩ đơn giản thế nữa. Yêu xa là thử thách đối với nhân tính, cần rất nhiều sự bao dung và tình yêu đủ lớn.
Vưu Tuyết Thuần thấy ngại nên nhanh chóng lảng sang chuyện khác. Thiệu Chi Oanh bắt đầu tập trung thưởng thức món ăn. Đàm Gia Thái là sự kết hợp giữa ẩm thực Quảng Đông và Bắc Kinh nên hương vị khá gần gũi với món Quảng. Cô đặc biệt thích món hải sâm hầm cá và vịt quay dứa. Món bánh bao mè trắng thơm nức mũi cũng là hương vị lần đầu cô được nếm.
Cuối bữa, hai người vừa uống yến sào vừa tán gẫu. Cô bạn đang kể về những chuyện cười ra nước mắt khi dạy học thì bàn bên cạnh có tiếng động lớn khiến cả hai chú ý. Đó là tiếng chào hỏi, khách sáo mời mọc thanh toán của một nhóm người vừa tan tiệc. Thiệu Chi Oanh không hứng thú, định quay đi thì bất chợt chạm phải một ánh mắt đầy toan tính.
Người đàn ông ngồi ở ghế sofa, mặc bộ vest màu yến mạch cắt may tinh xảo, diện mạo khá điển trai với nụ cười xã giao chuẩn mực. Tim Thiệu Chi Oanh bỗng thắt lại, cảm giác lạnh lẽo lan tỏa đầu ngón tay.
Đậu Duy Hi đưa mắt dò xét như đang xác nhận xem có nhận nhầm người không. Khi hai ánh mắt chạm nhau trên không trung, hắn lập tức nở nụ cười niềm nở, nói nhỏ với người phụ nữ bên cạnh rồi cùng cô ta tiến về phía Thiệu Chi Oanh.
“Chi Oanh? Thật khéo quá.” Hắn tươi cười lịch sự như thể gặp lại người thân lâu ngày, “Về Bắc Kinh sao không báo một tiếng, mấy hôm trước mẹ anh còn nhắc đến em đấy.”
Lê Phạn không phải mẹ đẻ của hắn, nhưng đã nuôi nấng hắn từ năm sáu tuổi, giờ hắn coi bà không khác gì mẹ ruột. Nói xong, hắn tự nhiên quay sang giới thiệu với người phụ nữ bên cạnh: “Nghệ Phỉ, đây là em gái mà anh đã kể với em, con gái ruột của mẹ, em gái anh ở Hồng Kông - Thiệu Chi Oanh, nghệ sĩ cello nổi tiếng đấy.” Rồi hắn quay lại cười với Chi Oanh: “Đây là vợ mới cưới của anh, Trần Nghệ Phỉ.”
Trần Nghệ Phỉ mỉm cười gật đầu, trong mắt thoáng hiện vẻ tò mò và dò xét.
Đầu ngón tay Thiệu Chi Oanh siết chặt chiếc thìa sứ đến trắng bệch. Vị yến sào thanh ngọt bỗng trở nên ngột ngạt khó nuốt. Cô im lặng vài giây, cố nén cảm giác nghẹn ứ ở cổ họng, khẽ nhếch môi đầy lạnh lùng: “Chào Trần tiểu thư.”
Vưu Tuyết Thuần dù không biết quá khứ của Thiệu Chi Oanh nhưng nhạy cảm nhận ra bầu không khí kỳ quặc nên im lặng quan sát. Thiệu Chi Oanh cố tình tránh né cách gọi “người nhà” ghê tởm đó, nhưng Đậu Duy Hi như không hề nhận ra, vẫn giữ phong thái người anh chu đáo. Hắn gọi quản lý nhà hàng tới: “Bàn này ghi hóa đơn cho tôi. Sau này tiểu thư đây đến dùng bữa cứ tính hết vào tài khoản của tôi.”
“Vâng thưa Đậu tiên sinh, tôi sẽ đăng ký ngay.” Có vẻ Đậu Duy Hi là khách quen ở đây nên thái độ quản lý rất vồn vã.
Giữa bầu không khí xã giao nồng nhiệt, một giọng nói lạnh lùng vang lên khiến tất cả phải chú ý: “Không cần.” Thiệu Chi Oanh nói từng chữ rõ ràng, thái độ dứt khoát.
Quản lý nhà hàng sượng trân. Không khí đông cứng lại, nhưng Đậu Duy Hi chỉ mất vài giây đã lấy lại vẻ phong nhã, cười nói: “Haiz, Chi Oanh em khách sáo với anh làm gì, đều là người một nhà cả...”
Trần Nghệ Phỉ vẫn im lặng quan sát Thiệu Chi Oanh. Cô em kế của chồng cô từ Hồng Kông tới có vẻ ngoài dịu dàng, trang nhã trong bộ đồ màu trắng ngọc trai, như được bao phủ bởi ánh trăng. Giọng nói dường như cũng nhẹ nhàng, nhưng trong đó ẩn chứa sự sắc sảo, không quá to nhưng khiến người ta không thể phản kháng.
Vưu Tuyết Thuần nhận ra sự khó chịu của bạn mình, liền nhanh trí giải vây: “Đúng là không được đâu, tôi và Chi Oanh hẹn nhau rồi, hôm nay tôi mời. Tôi nợ cậu ấy bữa cơm cả nửa năm nay rồi, xin lỗi mọi người nhé, ưu tiên phụ nữ, đừng ai tranh với tôi.” Nhờ sự giúp đỡ của Tuyết Thuần, không khí mới dịu lại. Đậu Duy Hi không nói gì thêm, chỉ xã giao vài câu rồi lịch thiệp dẫn vợ về chỗ.
Vưu Tuyết Thuần không biết xích mích giữa họ, chỉ nghe Thiệu Chi Oanh kể qua về mẹ mình là Lê Phạn - người phụ nữ vì gả vào nhà giàu Bắc Kinh mà bỏ mặc con gái. Cô thầm nghĩ mối quan hệ mẹ con chắc chắn rất căng thẳng, và nếu cô có một ông anh kế như thế này thì cô cũng ghét cay ghét đắng. Cô không hỏi thêm, hai người tiếp tục câu chuyện dang dở rồi thanh toán ra về.
Đêm Bắc Kinh chỉ 7 độ, Vưu Tuyết Thuần muốn lái xe đưa Thiệu Chi Oanh về. Nhưng cô nói muốn đi dạo xung quanh mua ít đồ dưỡng da. Cô bạn thân hào phóng: “Cần gì đi mua, tớ có đầy đây này, tớ đưa cho cậu mấy lọ là xong.”
Thiệu Chi Oanh lắc đầu: “Thôi, da tớ với cậu khác nhau mà, cậu là da khô.”
“Ừ nhỉ,” Tuyết Thuần nghĩ một lát, “Giờ vẫn sớm, gần đây có Tân Thiên Địa hoặc APM... cậu muốn đi China World hay SKP cũng được, tớ đi cùng cậu.”
“Tớ đi dạo loanh quanh đây thôi, cậu bận thì cứ về trước đi, tối nay cậu còn phải soạn giáo án mà.”
“Vậy cũng được. Cậu chưa thạo đường xá ở đây, có chuyện gì cứ gọi cho tớ ngay nhé, đừng có khách sáo, khách sáo là tớ giận đấy.”
“Biết rồi mà.” Thiệu Chi Oanh mỉm cười.
Tiễn Vưu Tuyết Thuần đi xong, cô định dùng app gọi xe. Cô không rành app ở đại lục lắm nên loay hoay một hồi mới vào hàng chờ. Gió trước cửa nhà hàng thổi khiến cô thấy lạnh, định quay vào trong đợi thì bất ngờ bắt gặp ánh mắt của Đậu Duy Hi. Hắn đang đứng dưới gốc cây ngân hạnh, đốt một điếu thuốc. Thấy Thiệu Chi Oanh, hắn lịch sự dập thuốc, nhìn cô bằng ánh mắt thản nhiên: “Chi Oanh, anh biết em bận, nhưng mẹ những năm qua luôn rất nhớ em, có thời gian em hãy về nhà thăm bà nhé.”
Thiệu Chi Oanh dừng bước, nhìn thẳng vào hắn. Thật khó hiểu khi tên thiếu niên đốn mạt năm xưa giờ lại mang vẻ ngoài văn nhã, thậm chí có ánh mắt chân thành đến thế. Năm đó hắn đã 16 tuổi, cô không tin hắn có thể quên sạch những gì đã xảy ra.
Nếu như tình cảm của cô dành cho Lê Phạn là sự phức tạp, có rào cản nhưng vẫn còn chút vương vấn, thì đối với Đậu Duy Hi, cô chỉ có sự ghê tởm tuyệt đối. Cô không muốn nhìn hắn thêm một giây, càng không muốn nói chuyện. Cô không hiểu sao hắn lại có gan đứng đây nói những lời này.
Thiệu Chi Oanh mím môi, đôi mắt lạnh lẽo: “Ở Hồng Kông tôi có hai người mẹ, dù không cùng huyết thống nhưng đã chăm sóc tôi hơn mười năm dưới một mái nhà. Lê Phạn chẳng có chút tình cảm nào với tôi cả.” Cô nói đanh thép, không để lại chút đường lui nào: “Anh đã gọi bà ta một tiếng mẹ thì hãy làm tròn bổn phận làm con của anh đi, đừng có đem cái lòng hiếu thảo đó đẩy cho tôi.”
Sắc mặt Đậu Duy Hi thay đổi liên tục, tái mét vì không kịp đỡ lời. Mẹ đẻ hắn mất sớm, một tay Lê Phạn nuôi dưỡng nên hắn thực lòng coi bà là mẹ. Những lời của Thiệu Chi Oanh quá chói tai khiến hắn khó chịu: “Không thể nói thế được, ngày đó là do em không muốn ở lại Bắc Kinh, mẹ đã cố giữ em lại, anh và bố cũng luôn chào đón em.”
Chi Oanh nhếch môi: “Chào đón? Hóa ra anh gọi cái đó là chào đón à?”
Đôi mắt màu hổ phách của cô lạnh đến thấu xương khiến Đậu Duy Hi thoáng hoảng hốt trong một giây, nhưng hắn che giấu rất nhanh. Thiệu Chi Oanh định nói thẳng thừng hơn, nhưng đúng lúc đó Trần Nghệ Phỉ từ nhà vệ sinh bước ra. Thấy chồng đang đứng cùng Thiệu Chi Oanh, cô ta đi chậm lại, nhìn về phía này với vẻ thận trọng. Thiệu Chi Oanh im lặng, mím môi.
Đậu Duy Hi năm nay gần 30, hắn mới cưới vợ, và Trần tiểu thư trông có vẻ là người hiền lành. Cô không muốn nói ra sự thật khiến người khác phải bẽ mặt, cuối cùng cô chọn cách im lặng về chuyện năm xưa.
....
Gió đêm cuối thu se lạnh, cô không còn tâm trạng mua sắm, cô đi bộ về khách sạn. Con ngõ nhỏ cô đi tắt qua rất yên tĩnh, lá ngân hạnh rụng đầy mặt đất, lá thì vàng khô, lá thì màu mật ong, thỉnh thoảng có lá vàng rơi xào xạc, mang vẻ đẹp của mùa thu. Thiệu Chi Oanh khẽ run, quấn chặt chiếc áo măng tô cashmere trắng. Gương mặt đạo đức giả của Đậu Duy Hi như một chiếc xương cá nhỏ mắc kẹt trong cổ họng cô, mang lại cảm giác buồn nôn âm ỉ. Cộng với nỗi cô đơn nơi xứ lạ, cô không còn tâm trí ngắm cảnh, chỉ muốn về khách sạn thật nhanh.
Sảnh khách sạn Grand Hyatt đèn hoa rực rỡ, ấm áp. Khu vực thang máy khá đông người, lẫn cả một đoàn khách du lịch trung niên ồn ào. Thiệu Chi Oanh lặng lẽ đứng ở mép đám đông, nhìn con số thang máy mãi không chuyển động, gương mặt lộ vẻ mệt mỏi. Trong lúc thất thần, từ lối đi chuyên dụng ở phía bên kia có một nhóm người mặc vest lịch lãm đi tới. Nhiều người quay lại nhìn, cô cũng vô tình liếc mắt qua, rồi cô bỗng thấy một bóng hình quen thuộc.
Anh mặc một chiếc áo măng tô cashmere màu đen cao cấp, kiểu Anh cổ điển, bên trong là áo len cao cổ đen tuyền, đôi giày Derby đục lỗ bước trên thảm nhung, đầy vẻ nho nhã và quý phái. Sau lưng anh là bốn vệ sĩ, bên cạnh là vài nhân vật có vẻ là doanh nhân, quản gia khách sạn trong bộ đồng phục đang bấm thang máy cho anh, hơi cúi người nói gì đó. Ánh đèn pha lê ở lối đi VIP mang sắc vàng ấm áp, mọi người đều ẩn trong bóng tối, chỉ có dáng người anh cao lớn, bờ vai rộng, phong thái lạnh lùng cao quý khiến người ta không thể rời mắt.
Thiệu Chi Oanh chớp mắt, có cảm giác như mình vẫn đang ở trong mơ. Tống Hạc Niên đi thẳng vào thang máy VIP, đoàn người đi cùng nhanh chóng che chắn tầm mắt của người qua đường. Cô cứ ngỡ anh sẽ không thấy mình, nhưng ngay giây tiếp theo, các vệ sĩ bỗng lùi sang hai bên, tạo thành một lối đi rộng rãi, và ánh mắt của người đàn ông đó trực tiếp hướng về phía cô.
Cô sững sờ, giữa những ánh mắt tò mò của mọi người xung quanh, cô cảm nhận được một sự chờ đợi rõ ràng. Cô không kịp suy nghĩ nhiều, vội vàng bước tới, theo anh vào trong chiếc thang máy rộng rãi, yên tĩnh và thoang thoảng hương thơm lạnh lẽo. Cánh cửa thang máy màu đồng cổ từ từ khép lại. Mùi hương gỗ tuyết tùng sạch sẽ trên người anh lan tỏa, ngăn cách hoàn toàn sự ồn ào bên ngoài.
Thiệu Chi Oanh không ngờ lại gặp anh ở đây. Trong không gian cực kỳ tĩnh lặng, cô khẽ mở lời: “Sao anh cũng đến Bắc Kinh?”
“Đi công tác đột xuất.” Tống Hạc Niên đáp ngắn gọn. Ánh mắt anh dừng lại một chút trên làn môi hơi nhợt nhạt của cô, rồi bất ngờ hỏi: “Ở tầng mấy?”
“Tầng mười bảy.” Cô vô thức đáp.
Tống Hạc Niên đứng lặng yên, nghe vậy dường như trầm ngâm một lát. Ngón tay dài của anh hơi cong lại, theo thói quen định xoa nhẹ chiếc nhẫn triện cổ ở ngón út tay trái, nhưng lại chạm vào khoảng không. Thiệu Chi Oanh cũng chú ý đến động tác của anh, bỗng mỉm cười: “Anh quên đeo chiếc nhẫn đó rồi sao?”
Tống Hạc Niên thu tay lại, ánh mắt bình thản nhìn cô, rồi bỗng nhiên thong thả nói: “Trả phòng đi.”
Cô sững người, vành tai bỗng nóng bừng lên. Vì hoàn toàn không chuẩn bị tâm lý, cô thốt ra theo bản năng: “Có phiền quá không? Dù chúng ta đang thử hôn, nhưng em chủ yếu sợ ảnh hưởng đến công việc của anh...”
Ở chung không có nghĩa là ngay cả đi công tác cũng phải ngủ chung một giường chứ?
Tống Hạc Niên như nghe thấy một điều gì đó nực cười, qua gọng kính vàng lạnh lùng, anh lặng lẽ nhìn cô: “Vợ chồng thử hôn thì không cần phải mở hai phòng.”
Dứt lời, anh còn bồi thêm một câu đầy vẻ thản nhiên: “... Tiết kiệm tiền.”