Chương 43
43. Mưa đêm
Sấm dội rền trời, mưa như trút nước, cả ngôi chùa Vạn Ân đều chìm trong màn mưa giăng tầm tã.
Bên trong Trần Kính Viên của chùa Vạn Ân, tiếng chuông vang lên êm đềm như tiếng nước chảy.
Bởi vì khách khứa đến hành hương rất đông, nên chùa Vạn Ân đã cho tu sửa thêm nhiều khu vực dành cho khách nghỉ lại, có nơi phải trả nhiều bạc mới được ở, cũng có nơi cần ít bạc hơn, duy chỉ có mỗi Trần Kính Viên nằm phía sau núi là dù có mang vạn lượng bạc đến cũng không thể ở được.
Nơi này chỉ tiếp đãi hoàng thân quốc thích, quý nhân từ các danh môn thế tộc hoặc là thế gia thư hương đến qua đêm.
Trong điện Hạ Quang, tiếng tụng kinh trầm thấp râm ran thoang thoảng, lại có mùi trầm hương nhè nhẹ lượn lờ xung quanh điện. Đèn xanh cổ tự, đêm mưa thăm thẳm, quả thực giống như một cõi u tịch giữa chốn nhân gian.
Đúng lúc đó, giữa màn đêm sâu thẳm bỗng hiện lên một bóng người, phá vỡ đi sự tĩnh mịch vốn có ấy.
Người nọ dầm mưa mà đến, băng qua cầu tre, bước đến phía trước điện.
Đó là một nam tử có dung mạo tuấn mỹ, tóc búi kim quan, y phục trên người đã thấm nước mưa. Hắn vừa mới đến nơi, thì từ bên trong điện lại có một nam tử cao lớn mặc áo xanh lục bước ra, hông đeo trường kiếm, thần sắc lạnh lùng.
Bùi Điện soái Bùi Vân Ánh đưa tay lau đi những giọt mưa vương trên áo, vừa định bước vào trong thì bị Tiêu Trục Phong giơ tay cản lại.
Tiêu Trục Phong nói: “Điện hạ đang biện kinh (*) với Tịnh Trần đại sư.”
(*) Biện kinh là đàm đạo, tranh luận về kinh sách, Phật pháp.
Bùi Vân Ánh thở dài: “Đã một canh giờ rồi, vẫn chưa biện xong sao?”
Tiêu Trục Phong mặt mày nghiêm nghị đáp: “Kinh Phật huyền diệu, Phật pháp uy nghiêm, Ninh Vương điện hạ tích đức hành thiện…”
“Thôi đi Tiêu nhị,” Bùi Vân Ánh không hề khách khí ngắt lời hắn, khẽ bật cười: “Việc thiện thường dễ bại, người tốt thì luôn bị gièm pha. Ngươi nói vậy mà nghe được à?”
Tiêu Trục Phong trầm mặc giây lát, hạ giọng xuống: “Gần đây Thái hậu nương nương thân thể bất an, điện hạ tình nguyện chép kinh Phật để cầu phúc cho Thái hậu…”
Bùi Vân Ánh khẽ “ồ” lên một tiếng: “Ra là vậy.” Hắn lại liếc nhìn vào trong điện, than thở: “Làm em ruột của Hoàng đế cũng không dễ dàng gì.”
Hai người đứng trước đại điện, bên dưới mái hiên mưa rơi dày đặc như tơ kén, lộp độp rền rĩ. Nhìn từ xa, trông họ chẳng khác nào hai pho tượng đá đen đứng sừng sững ngay trước cửa điện.
Bùi Vân Ánh lặng thinh ngắm mưa một lúc rồi bỗng mở miệng: “Ngày mai là pháp hội Thanh Liên, ngươi có đi thắp đèn không?”
“Sáng sớm mai ta phải theo Ninh Vương điện hạ xuống núi.”
Bùi Vân Ánh chỉ nhìn mưa chứ không nhìn hắn ta: “Ta tưởng ngươi sẽ ở lại thắp đèn cầu phúc cho người ta chứ.”
Nghe vậy, sắc mặt Tiêu Trục Phong hơi biến, một lúc lâu sau mới lên tiếng: “Nghe nói đêm qua ngươi đi gặp nàng, nàng vẫn ổn chứ?”
Bùi Vân Ánh im lặng. Một lát sau hắn khẽ thở dài, nghiêm túc nói: “Tiêu nhị này, hay là ngươi giết Mục Thịnh luôn đi, biết đâu đời này ngươi vẫn còn cơ hội làm tỷ phu của ta.”
Tiêu Trục Phong bình thản đáp: “Nhưng nàng sẽ không vui.”
“Phải rồi.” Bùi Vân Ánh nói xong cũng im lặng theo. Qua một hồi lâu, hắn chỉ cười cười vỗ vai bằng hữu, rồi chẳng nói gì thêm.
Chỉ còn mưa đêm quạnh quẽ, rơi mãi không dứt.
***
Đêm mưa trong chùa luôn mang theo vài phần hiu quạnh.
Nhưng hiu quạnh thì vẫn còn hơn là quỷ dị.
Trong một gian phòng nào đó của Vô Hoài Viên, Kha Thừa Hưng bất chợt rùng mình, cảm thấy vai hơi lạnh, liền đứng dậy khép cửa sổ lại.
Vạn Phúc đang quỳ dưới đất, cẩn thận sắp xếp lại mấy quyển sách kinh chép tay.
Không rõ là do Kha Thừa Hưng đa nghi hay thật sự đã linh nghiệm, mà từ sau khi y đến chùa Vạn Ân, quả thực không còn thấy bóng ma của Lục thị xuất hiện nữa.
Thực ra từ ngày y quyết định tham dự pháp hội Thanh Liên, hình như hồn ma của Lục thị cũng đã nhận ra điều gì đó nên không còn hung dữ như trước, cũng không còn quấy rầy y mỗi đêm, vất vả lắm mới ngủ được hai giấc thật ngon lành.
Chính vì vậy nên Kha Thừa Hưng đã xem chùa Vạn Ân như cọng rơm cứu mạng của mình.
Dù ác quỷ có hung tợn đến mấy, đến khi gặp thần Phật thì cũng như chuột thấy mèo thôi. Y nghĩ vậy, ngồi xuống trước bàn, thấy đồ chay đã được các tăng nhân đưa đến, trông cực kỳ tinh xảo đẹp mắt. Sau bao ngày sống trong nơm nớp bất an, cả người y gầy rộc hẳn đi, giờ được thả lỏng tinh thần nên bụng cũng bắt đầu cồn cào, liền cầm bát đũa lên ăn ngấu nghiến.
Ăn được một lúc, Kha Thừa Hưng bất giác nhớ tới Lục thị.
Từ sau khi hồn ma nàng xuất hiện, y đã cố ép mình không được nhớ tới người vợ quá cố nữa, bởi vì những cơn ác mộng đã đủ khiến y hồn phi phách tán, hơn nữa y cũng chẳng dại mà tự chuốc thêm khổ vào người làm gì. Nhưng giờ đây y đang ở trong chùa, xung quanh có Phật Tổ độ trì, trong không gian tĩnh lặng trang nghiêm này, cuối cùng y cũng dám đường hoàng mà hồi tưởng lại dung nhan của Lục thị.
Kha Thừa Hưng đối với Lục thị, thực ra là nhất kiến chung tình.
Năm ấy, y đến huyện thu món nợ cho lò gốm mà phụ thân đã để lại lúc còn sống, giữa đường bị sơn tặc chặn đánh, xe ngựa bị cướp, phu xe vì cứu y mà trọng thương bỏ mạng. Y chạy được vài dặm, bỗng phát hiện mình đã lạc đến một nơi hoang vu xa lạ, bối rối chẳng biết đường nào mà lần.
Lúc ấy trời đã xế chiều, bốn phía không một bóng người qua lại, mà ở nơi hoang dã vắng vẻ thì thường hay xảy ra chuyện dã thú ăn thịt người. Đúng lúc Kha Thừa Hưng đang vô cùng tuyệt vọng thì đụng phải Lục Khiêm đang trên đường trở về nhà, đúng lúc đi ngang qua rồi thấy tình cảnh của y, liền đưa y về huyện Thường Võ nghỉ tạm.
Lúc đó, Kha Thừa Hưng đã gặp Lục Nhu.
Lục Khiêm đưa y về Lục gia. Người nhà họ Lục thấy y đáng thương, bị cướp sạch sẽ không còn một xu dính túi nên đã tốt bụng cho y ở nhờ. Kha Thừa Hưng viết thư gửi về Thịnh Kinh, nhờ mẹ phái người đến đón mình. Trong lúc chờ đợi người nhà họ Kha đến, Kha Thừa Hưng và những người trong nhà họ Lục đã chung sống cùng nhau rất vui vẻ.
Kha Thừa Hưng vẫn nhớ như in ngày đầu tiên y gặp Lục Nhu.
Khi đó y vừa mới thoát chết, người đầy bùn đất, bộ dạng vô cùng thảm hại. Lục Khiêm dìu y đến phía trước một gian nhà nhỏ, y nhìn cánh cửa đơn sơ trước mặt, không khỏi nhíu mày.
Thành huyện vốn đã không lớn, những căn nhà sát mặt đường nhìn qua lại càng tồi tàn, mái nhà lợp bằng đất trộn với rơm khô, lúc thời tiết hanh khô thì không sao, nhưng nếu mưa xuống thì e là sẽ dột hết.
Đang nghĩ ngợi thì Lục Khiêm đã hướng vào trong nhà gọi lớn: “Cha, nương, tỷ!”
Từ bên trong vang lên một giọng nữ trong trẻo đáp lại, ngay sau đó, một cô nương bước ra từ trong gian nhà tối om.
Nàng vấn tóc theo kiểu mây uốn lượn, búi tóc chỉ cài một chiếc trâm gỗ chạm hoa đơn sơ, mình mặc váy vải bông màu hồng nhạt, chân mày thanh thoát như xuân sơn, ánh mắt dịu dàng trong trẻo vô ngần. Dù y phục trên người đơn giản mộc mạc, nhưng cũng khó lòng mà che lấp được vẻ đẹp tựa thần nữ trong tranh của nàng. Gian nhà tồi tàn tối tăm kia, vì có giai nhân bước ra mà bỗng chốc sáng bừng lên.
Lúc đó Kha Thừa Hưng đã sững sờ vì vẻ đẹp của Lục Nhu, hồi lâu không nói nên lời.
Y không ngờ trong một phố huyện nhỏ bé như vậy, lại cất giấu một vị mỹ nhân đẹp đến nhường này.
Y phải lòng nàng ngay từ cái nhìn đầu tiên, suốt những ngày tháng ở nhờ nhà họ Lục, lúc nào y cũng chú ý đến nàng. Cha của Lục Nhu là một tiên sinh dạy học, trong nhà chỉ có một trai một gái, đệ đệ Lục Khiêm thì đang theo học ở học viện, hai năm nữa sẽ tham dự kỳ thi tuyển cử. Lục Nhu thân là nữ nhi, nhưng lại được cha dạy dỗ chẳng khác gì con trai. Nàng học chữ, học lễ nghĩa, học thơ văn thư pháp đầy đủ không thua gì đám học trò ở Thịnh Kinh.
Kha Thừa Hưng càng ngày lại càng ái mộ nàng nhiều hơn. Sau khi được người nhà đón về Thịnh Kinh, y liền thưa với Kha lão phu nhân rằng mình muốn cưới Lục Nhu làm vợ. Ban đầu Kha lão phu nhân không đồng ý, cho rằng nhà họ Lục nghèo hèn, không xứng với Kha gia bọn họ.
Khi ấy, Kha Thừa Hưng quỳ trước mặt bà ta, kiên quyết nói:
“Mẫu thân, Lục gia tuy nghèo, nhưng con trai thứ của họ là Lục Khiêm đang theo học ở học viện, nghe đâu hắn học hành rất giỏi, sau này có khả năng đỗ đạt cao. Nếu đỗ đạt thì coi như nhà họ Lục cũng có thân phận quan lại rồi.”
“Chúng ta là thương hộ, muốn kết thân với quan lại chẳng phải chuyện dễ. Nếu chọn người có xuất thân cao quý, chỉ sợ lại gặp phải người được nuông chiều từ bé chẳng biết gì. Con đã ở nhà họ Lục được nửa tháng, thấy Lục cô nương dịu dàng chu đáo, lại là người có ăn có học, hiền thục nết na lại biết giữ thể diện. Nếu gả vào nhà chúng ta làm dâu, chắc chắn nàng sẽ không vô cớ gây chuyện lung tung. Hơn nữa xuất thân nàng thấp thì ắt sẽ biết kính sợ nhà ta đôi phần, đó chẳng phải chuyện tốt hay sao?”
Kha lão phu nhân nghe vậy thấy cũng có lý, trong lòng bắt đầu lung lay. Bà ta phái người đến huyện Thường Võ điều tra về gia phong và nhân phẩm nhà họ Lục, được biết đó là một gia đình rất chính trực liêm khiết. Cuối cùng, biết là không thể cưỡng lại được sự kiên trì của con trai nữa, bà ta đành phải mời bà mối đến nhà họ Lục dạm hỏi.
Hôn sự diễn ra rất suôn sẻ.
Tuy Kha Thừa Hưng xuất thân từ nhà thương hộ, nhưng y lại có vẻ ngoài khôi ngô tuấn tú, nho nhã phong lưu, nếu chỉ xét bề ngoài thôi thì trông y cũng chẳng khác con nhà quan là bao. Trong những ngày ở nhờ nhà họ Lục, y luôn cố gắng thể hiện mình là một người ôn hòa lễ độ, khiêm nhường nho nhã như quân tử, khiến cho cả Lục gia đều có ấn tượng tốt với y.
Thêm vào đó, mười bốn tráp sính lễ cũng đã đủ để thể hiện thành ý của Kha gia.
Tóm lại, khi ấy Lục Nhu đã thuận lợi gả vào nhà họ Kha.
Kha Thừa Hưng cưới được người đẹp như vậy, sao lại không hài lòng cho được? Huống chi Lục Nhu không chỉ xinh đẹp mà còn hiểu chuyện, luôn biết giữ chừng mực, trong cả dòng họ ai nấy đều âm thầm ghen tị vì y cưới được một người như thế.
Mãi cho đến cái ngày ở Phong Nhạc Lâu…
Gió mạnh bên ngoài khiến cánh cửa sổ bật mở, tiếng “rầm” bất chợt kéo Kha Thừa Hưng thoát ra khỏi dòng hồi ức.
Bầu trời phía xa tối đen mịt mùng, ngôi chùa trên núi sừng sững trong màn mưa giăng trông như một con thú khổng lồ đang cuộn mình bất động.
Kha Thừa Hưng ngẩng đầu, rùng mình một cái rồi hỏi Vạn Phúc đang thu dọn ở bên cạnh:
“Bây giờ là giờ nào rồi?”
Vạn Phúc nhìn đồng hồ nước đặt trong phòng rồi đáp: “Gần đến nửa đêm rồi ạ.”
“Sao nhanh thế?”
Kha Thừa Hưng sầm mặt, lập tức đứng dậy:
“Mau đi lấy đồ, chúng ta phải xuất phát ngay bây giờ.”
…