Chương 8: Phần thưởng
Cố Thịnh Viễn đang uống rượu, chợt trông thấy tiểu tướng quân mà mình dẫn theo lại chạy lên đối thơ, suýt nữa phun cả ngụm rượu ra ngoài. Ông ho sặc sụa mấy tiếng mới ngừng được: “Tiểu nha đầu này chẳng lẽ đầu óc bị điên rồi? Ta có bao giờ thấy nó đọc sách đâu!”
Ông lại nhìn về phía con trai mình, quả nhiên chỗ ngồi trống không, xem ra đã sớm bị hai chữ “đối thơ” đánh cho bại trận. Thế này mới hợp tình hợp lý chứ.
“Ồ? Là tiểu tướng quân nhà họ Chu lên đấy à?”
Hoàng đế nheo mắt, trong ánh mắt đầy vẻ tán thưởng.
Khoan nói nàng có đối thắng được hay không, ít nhất phần can đảm này cũng đáng khen.
Chu Kiều sải bước lên: “Chính là thần!”
Đối phương đánh giá Chu Kiều một lượt. Tuy chẳng nói câu nào, nhưng ánh mắt từ trên xuống dưới kia lại giống hệt lúc tiên sinh ở trường tư thục kiểm tra nàng học thuộc bài ngày trước, cứ như đang công khai hỏi: Ngươi thì biết được mấy chữ?
Nhưng Chu Kiều đâu còn là nàng của thuở nhỏ. Chuyện nói dối giả bộ, nàng đều tinh thông. Nàng kiêu ngạo hất cằm, khí thế chẳng hiểu sao lại khiến thư sinh kia có phần chột dạ.
Chẳng lẽ quả thật là chân nhân bất lộ tướng?
“Trẫm chỉ biết tiểu tướng quân thân thủ bất phàm, lại không biết ngươi còn biết đối thơ? Nếu đã vậy, các ngươi cứ đối thử cho mọi người nghe. Ngươi không cần áp lực, chỉ là góp vui, không cần để tâm thắng thua.”
“Bệ hạ.” Chu Kiều chắp tay, “cứ khô khan đối thơ như thế, hình như có hơi nhàm chán.”
Hoàng đế vuốt râu: “Vậy ngươi muốn thế nào?”
“Đã là góp vui, thì dù sao cũng phải có chút thú vị để khiến mọi người bật cười mới được.”
Chu Kiều nhìn thư sinh: “Ngươi còn biết tài nghệ gì khác không?”
Thư sinh ngẩn người: “Ta... ta chỉ biết đọc sách.”
“Xì.”
Chu Kiều gần như viết thẳng hai chữ khinh thường lên mặt. Nàng nghĩ tới nghĩ lui, cuối cùng nghĩ ra cách đơn giản nhất: “Vậy đoán câu đố chữ chắc biết chứ?”
Câu này đến Hoàng hậu cũng thấy hiếu kỳ, mỉm cười hỏi: “Tiểu tướng quân lại định giở trò gì đây?”
Chu Kiều đáp: “Nương nương, đối thơ cứ hắn một câu ta một câu, mọi người chẳng qua cũng chỉ nghe cho vui, chẳng thú vị gì cả. Chi bằng thêm phần đoán câu đố chữ. Phải vừa đối được thơ, vừa giải được câu đố chữ mới tính là thắng. Như vậy mọi người ở đây đều có thể cùng đoán, chẳng phải náo nhiệt hơn sao?”
Hoàng đế bật cười ha hả: “Con nha đầu này lúc nào cũng nghĩ ra những ý tưởng kỳ quái. Vậy cứ theo lời ngươi, trẫm và Hoàng hậu cũng cùng đoán thử!”
Chu Kiều đắc ý cười, nhìn thư sinh: “Ngươi ra thơ trước, thế nào?”
Thư sinh gật đầu, suy nghĩ một lát rồi nói: “Vậy ta lấy cảnh mùa đông làm đề, bày tỏ nỗi sầu trong lòng.”
Chu Kiều nghe chẳng hiểu gì, nhưng vẫn giả bộ như rất hiểu. Nàng làm ra vẻ trầm ngâm, rồi gật đầu.
“Tuyết phủ Tung Sơn lĩnh, bán nguyệt phủ vầng tàn.”
Thư sinh nhìn nàng, chờ câu tiếp theo.
Chu Kiều hắng giọng: “Không vội, không vội. Nếu ngươi đã ra thơ trước, vậy ta ra câu đố chữ trước cũng được chứ? Ngươi giải được câu đố này, ta sẽ đối tiếp câu sau.”
Nghe cũng chẳng có gì sai, thư sinh liền gật đầu.
Chu Kiều đảo mắt: “Một con chó, hai cái miệng, ai gặp nó, người ấy sầu. Đoán một chữ.”
Thư sinh nhíu mày, những người xung quanh cũng bắt đầu xì xào bàn tán.
Chu Kiều đảo mắt nhìn một vòng, thấy không ít người dường như đã đoán ra, nhưng vị tài tử được gọi là “tài hoa” kia vẫn còn cau mày suy nghĩ. Chu Kiều vô cùng hài lòng với cái đầu gỗ chỉ biết đọc sách này.
Nàng rảnh rỗi đi loanh quanh một vòng, còn dặn những người đã đoán ra không được nói đáp án. Kéo dài hồi lâu đến mức khát khô cả miệng, nàng nghiêng đầu: “Người đâu, mang trà cho bản tướng quân. Trà thanh thôi, loại khác không cần.”
Lập tức có một chén trà thanh được đưa tới trước mặt. Vừa khéo chính là tiểu công công lúc nãy được nàng sai đi cổng cung lấy cung.
Chu Kiều cầm chén trà uống cạn một hơi, uống xong còn mỉm cười với vị công công kia: “Đa tạ.”
Nàng xoay người đi về phía thư sinh: “Xong chưa?”
“Là chữ ‘khốc’!”
Chu Kiều nhướng mày. Xem ra còn phải tăng thêm chút độ khó.
Thư sinh lại nói: “Đến lượt ngươi đối thơ.”
Chu Kiều đứng giữa điện: “Điệp loan cố lý hồi, nhạn vọng cố nhân quy.”
Giữa những câu chữ đã thấp thoáng nỗi sầu được nhắc đến trong đề.
Thư sinh lập tức biết phải đối câu tiếp thế nào. Nhưng trước khi ra câu thơ, hắn cũng có thể đưa ra câu đố chữ để làm khó Chu Kiều. Hắn vội nói: “Một nhà mười một miệng! Đoán, đoán một...”
Chưa nói hết, Chu Kiều đã chống nạnh: “Chữ ‘cát’ trong cát tường như ý! Cái này mà cũng gọi là câu đố chữ à?”
Lời chế giễu trắng trợn khiến thư sinh xấu hổ không chịu nổi, vội vàng nói tiếp: “Phong hoa chiếu tịch dương, mộng lý túy thành song. Câu tiếp theo ngươi đối thế nào?”
Chuyển ý tự nhiên, tiếp nối câu trên. Lập tức có người gật gù tán đồng, thư sinh cuối cùng cũng tìm lại được chút thể diện.
Chu Kiều liếc về phía ngoài điện, sau đó lại ra câu đố chữ: “Một bên đỏ, một bên xanh, một bên sợ gió, một bên sợ mưa. Đoán đi!”
Thư sinh lại cau mày suy nghĩ, lần này thậm chí còn dùng cả giấy bút.
Chu Kiều đi đi lại lại giữa điện, thỉnh thoảng lại bông đùa một hai câu, khiến mọi người cười nghiêng ngả.
Mắt thấy thư sinh đã vẽ kín cả tờ giấy, Chu Kiều lại gọi: “Trà của ta đâu? Đối thơ nói chuyện hao tâm tốn sức lắm, phiền vị công công lúc nãy, nhớ kịp thời mang trà tới nhé!”
“Vâng vâng, tiểu tướng quân cứ yên tâm.”
Chu Kiều lại uống một hơi cạn sạch. Khi nàng quay người lại, thư sinh đã viết một chữ “Thu” thật lớn trên giấy Tuyên.
“Hòa là màu xanh, Hỏa là màu đỏ, Hòa sợ gió, Hỏa sợ mưa, cho nên chính là chữ ‘Thu’!”
Thư sinh nhìn chằm chằm Chu Kiều.
Chu Kiều ngoáy ngoáy tai: “Ta có nói không phải đâu, nói to thế làm gì?”
“Vậy đến lượt ngươi đối câu tiếp.”
“Hai tám nữ đa kiều, nại hà tẩu thước kiều.”
Thư sinh sững người.
Câu này đã trực tiếp nói rõ nỗi sầu bắt nguồn từ đâu, vì sao mà có.
Hắn nóng lòng muốn đối câu tiếp theo, nhưng khổ nỗi còn phải vắt óc nghĩ thêm một câu đố chữ. Suy nghĩ hồi lâu, cuối cùng mới nghĩ ra: “Người không ở đúng vị trí.”
Chu Kiều mặt không cảm xúc, giọng đầy chê bai: “‘Lập’, chữ lập trong ‘đỉnh thiên lập địa’.”
“...”
Thư sinh hoàn toàn không ngờ đầu óc đối phương lại nhanh đến vậy, đành vội vàng đối thơ: “Tâm tự vấn vân tiêu, Nguyệt lão khuyến chiết yêu.”
“Trùng phùng.”
Thư sinh mở to mắt: “Cái gì?”
Chu Kiều nhấn từng chữ: “Trùng, phùng. Đoán một chữ. Nhìn tuổi ngươi cũng đâu có lớn, sao thính lực lại kém thế?”
Mặt thư sinh đỏ bừng. Hắn cầm bút, suy nghĩ tới lui nhưng vẫn không biết phải viết gì. Những giọt mồ hôi lớn như hạt đậu nhỏ xuống giấy Tuyên, lập tức loang mực thành một mảng đen.
Một khắc trôi qua, Chu Kiều lại uống thêm một chén trà. Thấy thư sinh vẫn cúi đầu khổ sở suy nghĩ, nàng thở dài, đi tới bên cạnh, cầm lấy cây bút trong tay hắn rồi viết một chữ thật lớn lên tờ giấy Tuyên đang treo.
Chữ vừa xuất hiện, từ xa đã nghe thấy tiếng cười vang.
Không phải vì lý do gì khác, chỉ bởi chữ của Chu Kiều thực sự... xấu đến không đọc nổi.
“Quan?”
Thư sinh lẩm bẩm: “Quan... quan, lại... kiến... Quả nhiên là trùng phùng!”
Chu Kiều mặc kệ mọi người đang cười nhạo chữ viết của mình, lập tức nói: “Câu cuối: ‘Đường quanh lối rẽ mang hận cười, người đời chớ gọi là hay!’“
“Hay!”
Hoàng đế không ngờ nha đầu này thực sự có thể thắng tài tử nước Phù Cừ: “Trẫm thật không biết tiểu tướng quân chẳng những cưỡi ngựa bắn cung hơn người, mà văn tài cũng xuất chúng! Cố Thái úy, ngươi thật biết cách dạy!”
Cố Thịnh Viễn chưa từng nhận được lời khen nào khiến mình chột dạ đến thế, chỉ đành cười gượng gật đầu, chẳng dám nhận công.
Ông chưa từng dạy Chu Kiều đọc sách làm thơ bao giờ.
Tuyết phủ Tung Sơn lĩnh, bán nguyệt phủ vầng tàn.
Điệp loan cố lý hồi, nhạn vọng cố nhân quy.
Phong hoa chiếu tịch dương, mộng lý túy thành song.
Hai tám nữ đa kiều, nại hà tẩu thước kiều.
Tâm tự vấn vân tiêu, Nguyệt lão khuyến chiết yêu.
Đường quanh lối rẽ mang hận cười, người đời chớ gọi là hay!
Hoàng hậu dịu giọng, đọc lại bài thơ một lần.
Hoàng đế cười gật đầu: “Quả thật lấy mùa đông làm cảnh, gửi gắm nỗi sầu trong lòng. Hay lắm, hay lắm! Tài tử Phù Cừ, ngươi thấy thế nào?”
Người kia chắp tay hành lễ: “Thần xin cam bái hạ phong.”
Hắn tuy câu nào cũng đối ứng hoàn chỉnh, nhưng phải thừa nhận rằng từ câu thứ hai trở đi, hắn đã hoàn toàn bị Chu Kiều dẫn dắt. Đề là do hắn ra, nhưng người thực sự thể hiện được ý nghĩa của đề lại chính là mấy câu thơ của Chu Kiều.
Thấy hắn cam tâm nhận thua, Chu Kiều hỏi: “Bệ hạ, vậy những phần thưởng này đều là của thần phải không?”
“Ngươi thắng hết, đương nhiên là của ngươi. Nhưng...”
Chu Kiều còn chưa kịp chạm vào phần thưởng, đã thấy Hoàng đế và Hoàng hậu nhìn nhau cười.
“Bài thơ này dường như là tâm sự của một thiếu nữ chốn khuê phòng. Ngươi thử nói xem.”
Còn phải giải thích ý nghĩa nữa?
Nàng biết giải thích thế nào đây!
Đúng lúc đang khó xử, một giọng nữ dịu dàng truyền tới: “Bệ hạ, nương nương, thần nữ có thể thay muội muội nói đôi lời được không?”
Màn trướng được vén lên, chính là dáng người thướt tha của Chu Ly.
“Bệ hạ, đây là nhị cô nương nhà họ Chu, tên Chu Ly. Tính tình nữ nhi dịu dàng, thường ngày hiếm khi xuất hiện.”
“Ồ, cũng là nữ nhi nhà họ Chu. Hộ quốc tướng quân quả thật có phúc! Nếu ngươi đã hiểu ý thơ, vậy nói thử xem!”
Giữa những ánh mắt ngưỡng mộ của mọi người, Chu Ly bước vào điện, đứng bên cạnh Chu Kiều.
“Bài thơ kể về một cô nương mười sáu tuổi, vốn đã có người trong lòng, nhưng lại bất đắc dĩ phải gả cho người khác. Nàng cầu Nguyệt lão thương tình, nhưng Nguyệt lão lại khuyên nàng nhận mệnh. Kết quả nàng thề chết không theo, uống thuốc độc tự vẫn. Cuối cùng, một mạng người lại chỉ trở thành câu chuyện để người đời đem ra bàn tán sau bữa cơm.”
Chu Kiều thầm than, quả nhiên chuyện này có đánh chết nàng cũng không bịa ra nổi.
Chỉ thấy Chu Ly khẽ cúi người: “Đây là câu chuyện chúng thần vô tình đọc được trong thoại bản lúc nhàn rỗi. Không ngờ muội muội lại lấy đó làm ý dẫn cho những câu thơ này, khiến bệ hạ và nương nương chê cười.”
Chu Ly khéo léo hóa giải, Chu Kiều càng thêm đúng lý hợp tình, mặt không đỏ tim không đập mà nhận lấy toàn bộ phần thưởng.