Chương 49
Rời khỏi Trường An, đi về hướng tây bắc khoảng trăm dặm, sâu trong vùng núi cao, nằm giữa hai dải núi uốn lượn trên một mảnh đất quý được gọi là “Song Long củng hộ” (*), tọa lạc một lăng mộ với phần mộ đất đắp cao sừng sững. Đây chính là lăng của cố Chiêu Đức Hoàng hậu. Vị hoàng hậu đoản mệnh ấy đang yên nghỉ trong tòa huyền cung thuộc về riêng bà, nơi chiếm trọn phong thủy với quy chế hoành tráng không thua kém gì đế lăng.
(*) “Song Long củng hộ”: Cụm từ này mô tả lăng mộ của Chiêu Đức Hoàng hậu nằm ở một vị trí “vàng” về phong thủy: Có hai dãy núi (như hai con rồng) vòng lại che chở, ôm lấy huyệt mộ ở giữa. Đây được coi là địa thế “tụ khí”, mang lại sự tôn nghiêm, bền vững và đại cát đại lợi cho người quá cố cũng như dòng tộc.
Màn sương mù dày đặc bao phủ cả bầu trời đêm qua vẫn chưa tan hết, bầu trời mang màu xanh xám đậm như vỏ cua. Trời chưa sáng, trong ánh bình minh mờ ảo, một lão cung giám mặc áo xám chậm chạp bước ra từ cổng lăng viên. Lão cầm một chiếc chổi tre, lảo đảo đi lên con đường thần đạo, bắt đầu quét dọn những cành khô lá rụng bị gió cuốn tích tụ trên mặt đường đêm qua.
Vạn vật lúc này vẫn chìm trong sự tĩnh lặng của đêm trường. Mấy con chim rừng đậu trên cành cây dại gần đó giật mình, vỗ cánh bay đi xào xạc, hóa thành những đốm đen rồi biến mất vào rừng cây phía cuối lăng mộ. Thân hình lão cung giám khòm xuống, tóc râu bạc trắng, trên gương mặt đầy những nếp nhăn của sự khắc khổ và thầm lặng. Một chân của lão có tật, bên dài bên ngắn không đều, chỉ có thể lê bước chân tàn tật khập khiễng đi về phía trước, hành động rất là bất tiện. Nhưng điều đó chẳng hề ảnh hưởng đến công việc lão làm.
Sau khi quét dọn xong con đường thần đạo dài và thẳng tắp ngoài cổng lăng, ánh sáng ban ngày dần rạng, lão lại tháo chiếc phất trần treo bên hông ra, khập khiễng đi tới bên những bức tượng quan hầu bằng đá cao lớn đứng dọc hai bên thần đạo, bắt đầu phủi bụi bám trên lưng và đầu tượng.
Vị cung giám này chắc hẳn là một kẻ sai vặt già giữ lăng ở đây, công việc lao dịch này rõ ràng lão vẫn lặp đi lặp lại mỗi ngày. Tỉ mỉ lau dọn xong một pho tượng đá không để cho nó dính một hạt bụi nào, lão lại bước tới trước một con linh thú Giải Trình bằng đá gần đó. Con thần thú này quỳ phục chân trước dưới đất nhưng kích thước vẫn rất to lớn. Sau khi phủi xong phần lưng, lão cung giám đấm đấm vào cái chân bị thương đang đau nhức vì chứng phong thấp, rồi tiếp tục nhón chân một cách khó nhọc, nhoài người về phía trước để với lấy một chiếc lá khô dính trên đỉnh đầu con thú. Đột nhiên, dường như cảm nhận được điều gì, lão dừng tay, chậm rãi quay đầu nhìn lại phía sau.
Phía sau lão, nơi làn sương sớm bắt đầu nhạt dần ở cuối con đường thần đạo thẳng tắp bỗng xuất hiện một thiếu niên. Thiếu niên không biết đã đến từ lúc nào, chỉ lặng lẽ đứng nhìn. Lúc này người ấy mới cất bước đi tới, đôi ủng bước trên mặt đá xanh bằng phẳng của con đường thần đạo phát ra những tiếng vang khẽ khàng, thanh thoát.
Lão cung giám với vẻ mặt đờ đẫn nhìn thiếu niên càng lúc càng tiến đến gần mình hơn. Lão nheo đôi mắt mờ đục, ánh mắt bối rối dừng trên người thiếu niên một lát rồi lập tức quay đầu đi như không hề quan tâm, tiếp tục việc dang dở là với lấy chiếc lá trên đầu con thú.
Mặc dù trên đường đến đây Nhược Vũ đã chuẩn bị sẵn tâm lý rằng “Triệu hầu cận” từ lâu đã không còn là người trong ký ức của nàng nữa, nhưng khoảnh khắc nhìn thấy dáng vẻ của người trước mặt, trái tim nàng — vốn chưa hoàn toàn hồi phục sau cú sốc trước vẻ già nua bệnh tật của A gia hôm ấy — lại một lần nữa run rẩy.
Nàng mấp máy môi muốn cất tiếng gọi nhưng phát hiện âm thanh nghẹn đắng nơi cổ họng, nhất thời không thể phát ra lời. Mãi cho đến khi lão cung giám phủi xong chiếc lá, cất bước đi bỏ lại nàng, lại lần nữa lê bước chân tàn tật khập khiễng rời đi, cuối cùng nàng mới phát ra được tiếng gọi: “Là ta đây!”
Nàng nhìn theo bóng lưng khòm xuống đang tập tễnh trên thần đạo — bóng lưng ngày xưa từng cõng nàng lên thật cao — khẽ khàng nói, dường như sợ âm thanh quá lớn sẽ làm lão giật mình. “Là ta đây!”
“Triệu hầu cận, ông không nhận ra ta sao?”
Lão cung giám đột ngột dừng bước, như thể tâm can bị một thứ gì đó nện mạnh vào, đứng sững lại tại chỗ. Rồi chầm chậm lão nghi ngờ quay đầu lại, ánh mắt mơ hồ một lần nữa rơi trên gương mặt nàng, mí mắt không ngừng giật liên hồi.
“Là ta đây, Lý Hộ Nhi.”
“Ta đã về rồi đây, Triệu hầu cận!”
Vành mắt Nhược Vũ đỏ hoe, khóe môi hiện ra một nụ cười, nàng đứng giữa thần đạo nhìn lão cung giám mình vừa gọi lại. Lão cung giám nghẹo đầu, đưa mắt nhìn nàng thêm một lát. Rồi đột nhiên hình như lão đã bắt được tia sáng độc nhất vô nhị chỉ thuộc về nàng trong số hàng vạn người trên thế gian này.
Ngay khoảnh khắc đó, đôi mắt mờ đục tối tăm của lão như được vén đi lớp mây mù, phóng ra luồng ánh sáng của sự cuồng hỉ không thể tin nổi. Gương mặt lặng lẽ đầy nếp nhăn ấy cũng bừng lên một vẻ rạng rỡ kinh người. Tiếp đó cả người lão run rẩy kịch liệt như vừa mắc một trận bạo bệnh, đứng không vững nữa, chiếc phất trần đang cầm cũng tuột khỏi bàn tay rơi xuống đất.
“Tiểu quận chúa… Tiểu quận chúa… Thực sự là Tiểu quận chúa…” Môi lão cung giám run bần bật, khàn giọng lẩm bẩm vài tiếng, rồi đột nhiên như hoàn toàn bừng tỉnh, lão quay người sải bước về phía Nhược Vũ. Lão bước càng lúc càng nhanh, đến cuối cùng cái chân tàn tật hoàn toàn không theo kịp nhịp độ của lão nữa, chỉ có thể lê lết phía sau một cách vặn vẹo. Rồi lão mất thăng bằng, quỳ sụp xuống mặt đường thần đạo.
“Ông trời hỡi!” Lão cung giám giơ cao hai tay, ngửa mặt lên trời, gào lên một tiếng cuồng hỉ trong tiếng nấc run rẩy. Tiếp đó, lão phủ phục dưới đất, hướng về phía thiếu niên trước mặt mà rơi nước mắt dập đầu.
“Lão nô Triệu Trung Phương, khấu kiến Công chúa!”
Trong phút chốc, lão nghẹn ngào đến mức hầu như không thể nói thành lời.
Lúc này, từ phía gần đó truyền đến hai tiếng chim kêu lảnh lót. Đó là tín hiệu nhắc nhở của Bùi Tiêu Nguyên – người đang canh gác cho nàng. Trời đã sáng, bắt đầu có những viên quan coi lăng đi ra.
Nhược Vũ bước tới trước mặt người hầu cận năm xưa của mình, đỡ lão rời khỏi đường thần đạo, dìu đến một nơi hẻo lánh không người. Nàng để lão ngồi lên một phiến đá bằng phẳng rồi kể lại một lượt quá trình mình thoát nạn năm xưa, được người ta nhận nuôi và trưởng thành bình an như thế nào, chỉ trừ việc không nhắc đến danh tính của A công.
“Triệu hầu cận, sau đó ông đã thoát thân như thế nào?” Nàng hỏi Triệu Trung Phương.
Triệu Trung Phương kể cho nàng nghe rằng sau khi ông đuổi nàng đi, vốn dĩ đã chuẩn bị sẵn tâm thế để chết. Không ngờ vào lúc đó, bên lề đường lại có một thiếu niên ăn xin áo quần rách rưới đang ẩn nấp. Sau khi ông hứa hẹn sẽ cho hắn vinh hoa phú quý, tên ăn xin ấy đã đồng ý mạo hiểm cứu giúp. Trước khi đám người kia đuổi tới, hắn đã kéo ông ra khỏi gầm xe rồi cõng ông trốn thoát.
Tên ăn xin đó có sự tinh khôn và nhạy bén hiếm thấy, sau đó lại thuận lợi né tránh được mấy đợt truy lùng. Nhờ vậy lão mới may mắn giữ được mạng sống, vượt qua kiếp nạn năm ấy.
Nhược Vũ nhìn cái chân tàn tật biến dạng vừa rồi phải lê lết của lão hoạn quan, mắt lại đỏ hoe.
“Chân của ông hỏng rồi. Là vì cứu ta nên mới trở nên như vậy.”
Triệu Trung Phương mỉm cười an ủi, lắc đầu: “Lão nô còn có thể sống để thấy Công chúa bình an trở về đã là mãn nguyện lắm rồi! Đừng nói là một cái chân, cho dù ông trời lúc này lấy đi cái mạng hèn của lão nô, lão nô cũng cam lòng!”
Lão chẳng màng đến cái chân tàn tật bất tiện mà rời khỏi chỗ ngồi, một lần nữa quỳ sụp xuống đất dập đầu, trịnh trọng hành đại lễ hướng về đất trời vì đã bảo vệ được tiểu quận chúa trong lòng lão. Sau đó, dường như nhớ ra điều gì, lão nhìn về phía thành Trường An, lau sạch nước mắt già nua, hết lần này đến lần khác ngắm nhìn Nhược Vũ, muốn nói lại thôi.
Nhược Vũ biết lão đang nghĩ gì.
“A gia vẫn chưa biết ta đã trở về.” Nàng nói.
Niềm vui sướng trên mặt Triệu Trung Phương tan biến, trong mắt ẩn hiện vẻ u uất đậm đặc như thể đã thấu hiểu hết thảy mọi chuyện.
“Công chúa, tại sao người lại…” Cuối cùng lão vẫn không dám hỏi tiếp, rơi vào im lặng.
“Triệu hầu cận, có một chuyện ta muốn hỏi ông. Đêm xảy ra chuyện năm đó, A nương ta bị triệu vào cung rồi một đi không trở lại, người trở về chỉ có Quách điển quân. Ông ấy gọi ông ra nói chuyện. Rốt cuộc ông ấy đã nói gì với ông?” Nhược Vũ khẽ hỏi.
Triệu Trung Phương vẫn im lặng, một lát sau mới trầm giọng trả lời: “Công chúa hỏi lão nô, nếu lão nô còn nhớ thì nhất định sẽ nói cho người biết. Chỉ là năm dài tháng rộng, chuyện này lão nô thực sự không còn nhớ rõ nữa rồi…”
“Ông không nói cũng không sao, để ta nói cho ông nghe thử, ông chỉ cần bảo ta đúng hay không là được.” Nhược Vũ nói.
“Đêm đó, Lão Thánh nhân đã lặng lẽ trốn khỏi cung. Đương kim Hoàng hậu lúc đó nhờ vào lợi thế thân phận nên đã biết chuyện này sớm hơn bất kỳ ai. Bà ta lợi dụng lúc trong cung không có người, giả mạo danh nghĩa của Vương Thái hậu năm đó để lừa A nương và ta vào cung nhằm mưu hại. Họa sư cung đình Đinh Bạch Nhai hay tin, liều chết đến báo cho chúng ta. Thế nhưng Liễu hậu phát giác, phái người đuổi theo. A nương vì muốn tạo thêm cơ hội thoát thân cho ta nên lệnh cho Quách Túng quay về đưa ta đi trốn. Còn bà và Đinh Bạch Nhai, sau khi Quách Túng đi rồi, thì chắc hẳn đã tìm mọi cách để thu hút sự truy sát của đám người kia, cuối cùng bỏ mạng trong tay Liễu hậu.”
Giọng Nhược Vũ bình thản như thể đang bàn luận một chuyện chẳng liên quan gì đến mình. “Đêm đó Quách Túng trở về chính là để kể về âm mưu của Liễu hậu, truyền lời của A nương ta bảo ông đưa ta đi chạy nạn ngay lập tức. Thế nên ông mới hoảng loạn đến mức đó, lúc đi vào suýt chút nữa là vấp ngã. Có đúng không?”
Theo lời kể của Nhược Vũ, gương mặt Triệu Trung Phương hiện lên vẻ bi ai, từ chỗ ngồi lão chầm chậm trượt xuống, cuối cùng quỳ sụp trước mặt Nhược Vũ.
“Công chúa! Công chúa vạn lần đừng nghĩ ngợi lung tung—” Lão khẩn cầu với giọng run rẩy.
“Thế sao?” Nhược Vũ mỉm cười. “Nhưng lúc ông ép ta chạy trốn, khi ta ngoảnh đầu lại thì đã nhìn thấy rõ ràng một gương mặt quen thuộc. Người đó là hộ vệ của nhà họ Liễu, ngay mấy ngày trước khi xảy ra chuyện hắn còn từng đến nhà đón Lý Mậu đi.”
Triệu Trung Phương nhắm nghiền mắt, thân hình càng khòm xuống dữ dội, chỉ có thể phủ phục dưới đất. Nhược Vũ khựng lại, hít một hơi thật sâu, đăm đăm nhìn lão hoạn quan dưới chân mình.
“Ta hỏi ông thêm một câu nữa thôi, chỉ một câu thôi. Ông bắt buộc phải trả lời ta.” Lão hoạn quan vẫn không có phản ứng, chỉ cúi đầu quỳ đó, bất động.
“Ông nói cho ta biết, A gia của ta, người có biết chuyện xảy ra trong đêm năm đó hay không?”
Ngay khi nàng hỏi ra câu này, chỉ thấy Triệu Trung Phương như bị kim nhọn đâm xuyên tim, đột ngột thẳng người dậy, mở trừng mắt, sắc mặt xám xịt như một người chết.
Lão lắc đầu: “Bệ hạ không biết! Người hoàn toàn không hay biết gì!”
“Tất cả là tội của lão nô! Lão nô có lỗi với Chiêu Đức hoàng hậu và Công chúa, lão nô chết đi sẽ phải xuống địa ngục A Tì! Là do lão nô quay lại cung, ma dẫn lối quỷ đưa đường đã nhận lợi lộc của Liễu thị, lại sợ không nghe theo sẽ mất mạng nên mới luôn giấu giếm Bệ hạ, giấu giếm cho đến tận bây giờ. Bệ hạ người… người không biết một chút gì cả!”
Nhược Vũ nhìn Triệu Trung Phương đang lắc đầu nguầy nguậy.
“Triệu hầu cận, ta không còn là tiểu quận chúa trước kia của ông nữa, và ông cũng không còn là Triệu hầu cận của ta nữa rồi, đúng không?”
Triệu Trung Phương khựng lại, đờ đẫn nhìn Nhược Vũ, đôi môi run rẩy nhè nhẹ.
“Ngày trước mỗi khi ta nghịch ngợm, ông muốn lừa ta nghe lời mà nói dối ta thì ông sẽ chớp mắt. Ngay cả bản thân ông cũng không biết điều đó đâu phải không?” Nàng mỉm cười thê lương.
“Ta thấy lúc ông vừa nói chuyện với ta, ông lại liên tục chớp mắt.”
Triệu Trung Phương rùng mình một cái, sau đó lão điên cuồng tự tát vào mặt mình: “Công chúa nghĩ sai rồi! Bệ hạ, Bệ hạ người thực sự không biết!”
Nhược Vũ quay đầu, thẫn thờ nhìn về phía cuối thần đạo, nơi ngôi mộ đắp cao sừng sững, một lát sau mới nói: “Triệu hầu cận, mặc dù ta không biết tại sao sau này ông lại bị A gia đuổi khỏi cung, đày đến đây chịu khổ sở, nhưng ta đoán chắc hẳn chuyện đó không thể tách rời khỏi việc này.”
“A nương của ta không chỉ bị kẻ hiểm ác bôi nhọ thanh danh mà nếu ta đoán không lầm thì cho đến tận bây giờ bà vẫn chưa được an táng. Bà chắc hẳn là không nằm dưới tòa địa cung này! Ta không biết hài cốt của bà hiện đang bị vứt bỏ ở phương nào, đang chịu cảnh sâu bọ rúc rỉa ra sao. Không tìm thấy bà, bà cũng không nhận được hương hỏa tế lễ từ nhân gian, có xuống âm phủ cũng chỉ là một hồn ma bóng quế cô độc, không qua được cầu Nại Hà, mãi mãi không được an nghỉ và luân hồi.”
Nàng quay đầu lại, nhìn lão hoạn quan vừa mới dừng tay tự tát.
“Ông không tiếc tự bôi nhọ mình trước mặt ta, nhưng ta biết ông không phải hạng người như thế. Dù ông có trung thành với A gia ta đến mức nào thì ông cũng không nhẫn tâm nhìn A nương ta — vị Vương phi cũ của ông — phải chịu cảnh khổ sở như vậy mãi đâu nhỉ.”
“Vừa rồi ông sợ ta hận A gia nên vì muốn bảo vệ chủ nhân mà vơ hết lỗi lầm lên đầu mình, đúng không? Thế nhưng chỉ dựa vào mình ông thì làm sao mà gánh nổi?”
Triệu Trung Phương buông thõng hai cánh tay, ngồi bệt xuống đất, gương mặt thảm hại, nhắm mắt không nói lời nào.
Nhược Vũ chậm rãi gật đầu: “Ta hiểu rồi. Thực ra chuyến này lẽ ra ta không nên đến đây. Ông nói hay không nói cũng chẳng có gì khác biệt. Ta chỉ là…” Nàng khựng lại.
“Triệu hầu cận, ông hãy bảo trọng sức khỏe, ta sẽ mãi ghi nhớ lòng tốt của ông. Ta phải đi rồi.”
“Còn nữa, nếu ông vẫn nhớ ta từng là tiểu quận chúa của ông thì ông nên hiểu nguyện vọng của ta là gì. Hãy bớt đi một phần lòng trung thành với chủ nhân của ông, đừng kể với người về việc ta đến đây ngày hôm nay.”
Nhược Vũ nói xong thì xoay người bỏ đi ngay. Triệu Trung Phương đột ngột mở trừng mắt, khó khăn quỳ bằng đầu gối đuổi theo nàng vài bước, ra sức dập đầu: “Công chúa! Cầu xin Công chúa đừng oán hận Bệ hạ! Người có nỗi khổ tâm mà! Cầu xin Công chúa hãy quay về đi! Bệ hạ lúc này chỉ còn lại một mình người thôi!”
Nhược Vũ dừng bước quay đầu, bắt gặp đôi mắt đầy rẫy khẩn cầu của lão hoạn quan.
“A gia có thiên hạ của người, A nương và ta tính là gì chứ.” Nàng khẽ nói, tuyệt tình quay đi, không dừng lại thêm nữa.
Tiếng van nài của lão hoạn quan và con đường thần đạo trang nghiêm đều bị bỏ lại sau lưng, cách nàng ngày một xa. Nàng đi trên con đường xuống núi, nghĩ về lời dặn “đừng về” trong giấc mộng, nghĩ về từng thước phim đêm qua, về vị Thánh thượng kia — bàn tay vươn ra nhưng chưa kịp chạm vào vạt váy của A nương đã lặng lẽ hạ xuống, về gương mặt già nua hằn sâu những đau đớn và dày vò…
Bất chợt, nàng thấy Bùi Tiêu Nguyên như một con báo linh hoạt, bóng dáng hắn lặng lẽ hiện ra sau một lùm cây rậm rạp bên đường. Gương mặt vốn thanh tú và ít biểu cảm của hắn lúc này thoáng hiện vẻ lo âu, đôi mắt sáng trong nhìn nàng, bốn mắt giao nhau.
Nàng dừng bước, nhìn hắn đi đến trước mặt mình. Nàng cố sức kìm nén cảm xúc mãnh liệt đang cuộn trào trong lồng ngực, sợ hắn mở miệng hỏi han nên đã vội vàng gật đầu trước, ngắt lời: “Ta không sao.”
Bùi Tiêu Nguyên khựng lại, liếc nhìn nàng thêm lần nữa rồi cũng không nói gì, chỉ gật đầu. Sau đó, hắn xoay người đi phía trước dẫn đường cho nàng xuống núi.
Nhược Vũ nhìn bóng lưng hắn cứ thế bỏ mặc mình mà đi, hai hàng lệ vừa cố kìm nén suốt nãy giờ đã không thể nhịn được nữa, lăn dài khỏi hốc mắt. Bùi Tiêu Nguyên đi được vài bước, không thấy nàng theo kịp sau lưng bèn quay mặt nhìn lại, thấy nàng đang ngẩn ngơ nhìn mình mà rơi lệ. Hắn sững người, lập tức quay lại, khẽ hỏi: “Sao lại khóc rồi?”
Câu hỏi của hắn ngay lập tức khơi dậy nỗi đau buồn vô hạn của Nhược Vũ. Kể từ khoảnh khắc đầu tiên nàng khôi phục ký ức nhớ lại chuyện xưa, điều mà nàng sợ hãi nhất, không muốn đối mặt nhất trong sâu thẳm tâm can mình, cuối cùng cũng đã được xác thực.
Từ nay về sau, nàng không thể tự lừa dối mình được nữa. A gia của nàng từ lâu đã biết rõ tất cả mọi chuyện. Tuy nhiên người chẳng làm gì cả, ngoại trừ việc xây cho A nương một ngôi mộ lớn lộng lẫy chẳng để làm gì thế này. Nếu đây là tình yêu của bậc quân vương thì A nương — người nhận lấy tình yêu ấy — chẳng phải quá thấp kém và đáng thương sao?
Nước mắt như chuỗi hạt đứt dây không ngừng rơi xuống. Trước mặt người đàn ông trẻ tuổi từng là vị hôn phu, là nghĩa huynh và giờ là người nàng tin tưởng nhất, người mà nàng không hề giấu giếm bất kỳ bí mật nào, nàng không thể kiềm chế nổi nỗi bi thương và thất vọng chất chồng trong lòng. Nàng nhào tới, túm lấy tay áo hắn như bám vào một cọng cỏ cứu mạng, khóc đến mức không thể kiểm soát được.
“A gia, A gia, A gia của ta… người đều biết hết cả…” Nàng vừa rơi nước mắt vừa nức nở, cuối cùng khó khăn lắm mới thốt ra được câu nói ấy.
Bùi Tiêu Nguyên đăm đăm nhìn gương mặt đầm đìa nước mắt vì khóc quá nhiều của nàng. Hắn chầm chậm nâng cánh tay lên, dùng lòng bàn tay ôm lấy sau gáy nàng, để trán nàng khẽ tựa vào vai ngực mình. Một lát sau, hắn nửa kéo nửa bế, đưa nàng vào sau lùm cây rậm rạp mà hắn vừa bước ra lúc nãy.
Ánh sáng đột nhiên trở nên tối tắm. Những chiếc lá ẩm ướt rủ xuống, nhỏ từng giọt sương đọng từ đêm qua. Đám sâu bọ đã ngủ no giấc, bận rộn nhả tơ dệt lưới giữa những kẽ lá trên đầu hai người. Những lá cỏ dưới chân cao quá ống chân, lặng lẽ thấm ướt vạt áo đang rủ xuống của cả hai. Từ phía thần đạo, xuyên qua rừng cây vọng lại tiếng chuông sớm xa xăm.
Hắn cứ thế nhẹ nhàng ôm nàng trong lòng, cùng nàng đứng trong bóng tối kín đáo sau bụi cây, dựng lên cho nàng một thế giới riêng biệt để nàng có thể thỏa sức khóc than.
Không biết bao lâu trôi qua, một dải nắng mai vừa mọc chiếu lên ngọn cây, xuyên qua kẽ lá, từng luồng nắng vàng rơi xuống, soi sáng mái tóc nàng vẫn đang vùi vào trong ngực hắn.
“Hôm nay ta không muốn quay về nơi đó nữa.” Nàng nhắm mắt, trán vẫn tựa vào hắn, giọng nói nghẹn đặc tiếng mũi, buồn bã thốt lên.
“Được. Ta đưa nàng đi giải khuây. Nàng muốn thế nào cũng được.” Bùi Tiêu Nguyên cúi đầu, ánh mắt rơi trên đỉnh đầu đang vùi sâu trong lồng ngực mình, cảm thấy nơi mà nàng đang tựa vào dường như sinh ra một cơn rung động khẽ khàng, thế nhưng giọng nói phát ra vẫn trầm ổn như thường lệ.
***
Trời sáng hẳn, Hoàng đế tỉnh lại sau cơn đau đến ngất đi đêm qua. Tuy sắc mặt vẫn xám xịt nhưng tinh thần xem chừng đã hồi phục phần nào.
Các y quan của Thái y thự vốn đã nhiều tháng không được triệu kiến, biết rõ Hoàng đế không hài lòng với hiệu quả của thang thuốc nên từ lâu đã hoảng sợ vô cùng. Không ngờ đêm qua lại tình cờ được chẩn bệnh cho Hoàng đế lần nữa, họ đã dốc hết vốn liếng, thức trắng một đêm, lúc này vẫn đang tụ họp bàn bạc phương thuốc mới.
Dương Tại Nương trình ý kiến của các y quan lên trước mặt Hoàng đế, phát hiện người không hề từ chối, lão không khỏi hớn hở ra mặt. Thấy Hoàng đế nằm trên gối lại nhắm mắt, dường như đang suy tính chuyện gì, lão không dám mạo muội quấy rầy, chỉ quay đầu ra hiệu cho cung giám mang bữa sáng đến.
Lúc này Hoàng đế mở mắt, hạ lệnh bảo lão triệu vị họa sư đêm qua tới.
Dương Tại Nương thưa: “Sáng nay nô tỳ nhớ ra cũng đã đi tìm hắn rồi, được báo là đã rời cung. Lúc canh bốn đêm qua, hắn đã được Bùi nhị lang quân đang trực túc vệ đón đi, cả hai cùng nhau ra khỏi cung ạ.”
Bẩm xong, lão thấy ánh mắt Hoàng đế ném tới, lập tức hiểu ý: “Xin Bệ hạ chờ một lát, để nô tỳ đi truyền gọi.”
Lão vội vã đi ra, thế nhưng khi quay lại, tin tức mang về cho Hoàng đế lại là: họa sư tên Diệp Nhược Vũ đã biến mất. Ở Tập Hiền điện không có, tại trạch đệ nhà họ Bùi ở phường Vĩnh Ninh cũng không có ai.
Sắc mặt Hoàng đế hơi lạnh lẽo, ánh mắt chứa vẻ giận dữ, hỏi tung tích của Bùi nhị.
“Còn về Bùi Tư thừa, nô tỳ cũng đã phái người đi tìm, nhưng ở cả nha môn lẫn Kim Ngô Vệ đều không thấy người, Hàn đại tướng quân cũng nói là không biết.”
Hoàng đế trầm ngâm một lát rồi lại nhắm mắt, trông như đã thiếp đi. Dương Tại Nương không dám phát ra tiếng động, nín thở chờ đợi bên cạnh. Một lát sau, lão nghe thấy Hoàng đế lên tiếng lần nữa, hạ lệnh gọi Viên Trị vào, lão vội vàng lên tiếng đáp lời rồi lui xuống.
Buổi chiều, Viên Trị vào cung báo cáo lại những gì ông ta tự mình thẩm vấn về mối quan hệ của Thế tử Vương phủ Tây Bình Vũ Văn Trì và A Sử Na Thừa Bình với vị họa sư kia.
“… Thế tử nói rằng vài năm trước vì mời hai thầy trò họ tu sửa và vẽ lại tháp Phật cho vong mẫu nên mới quen biết, ngoài ra không có qua lại gì cả, không biết được gì nhiều.”
“Phía Vương tử thì nói rằng trước kia đi ngang qua Cam Lương, vừa khéo hai thầy trò đang làm việc cho Bùi Ký nên mới quen biết. Cũng giống như Thế tử, hắn khẳng định qua lại không thân, hiểu biết chỉ qua loa.”
Hoàng đế nằm trên giường nhắm nghiền mắt, một hồi lâu không nói lời nào, sau đó đột nhiên mở miệng: “Đưa Vệ Nhân Nương đến chỗ ngươi, đừng để người khác để ý, trẫm muốn đích thân thẩm vấn.”
Viên Trị khựng lại, nhanh chóng liếc nhìn Hoàng đế một cái, miệng đáp vâng, sau khi hành lễ thì cung kính lui ra ngoài.